vanban.org

Bản án 288/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 12/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

TAND tỉnh Khánh Hòa; VKSND tp. Nha Trang;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng Quý - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 288/2024/HS-ST
Ngày 12-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nam Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy

Ông Mai Văn Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 381/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Hồng Q - sinh ngày 21/02/1997 tại Bình Định; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Ph - xã M - huyện Ph- tỉnh BĐ; Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L (chết) và bà Đoàn Thị Th (1973); Tiền án; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 25/8/2024. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Công ty TNHH Nh

Trụ sở: 70 đường A5 - Khu đô thị VCN - p. Phước Hải - tp. Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa.

* Người đại diện theo pháp luật: Bà Phan Thị X - sinh năm 1985

Trú tại: phường T - tp. Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa

Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Đỗ Quốc Ng - sinh năm: 1986

Trú tại: xã D - huyện D - tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt

2/ Bà Lê Đoàn Th - sinh năm 1992 Trú tại: xã D - huyện D - tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Hồng Q (sinh năm 1997; thường trú tại: thôn Ph - xã M - huyện Ph- tỉnh BĐ) vào Nha Trang làm thuê tại Công ty TNHH Nh; địa chỉ: lô 70 đường A5, khu đô thị VCN, phường Phước Hải, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa từ tháng 6/2024. Quá trình làm việc tại đây, Quý biết anh Đỗ Quốc Ng(sinh năm 1986; trú tại: xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa) là người quản lý Công ty hàng ngày cất tiền bán hàng của Công ty trong hộc bàn làm việc. Ngày 19/8/2024, Quý mượn xe của anh Ng đi mua đồ thì phát hiện trong chùm chìa khóa có gắn chìa khóa hộc bàn cất tiền, vì vậy Q đã đánh thêm 01 chìa khóa hộc bàn cất tiền rồi giấu trong người. Sau đó Lê Hồng Q đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại Công ty TNHH Nh, cụ thể: Vụ 1: Khoảng 20 giờ ngày 21/8/2024, Lê Hồng Q lợi dụng buổi tối mọi người trong Công ty đi về, chỉ còn lại một mình Q ở lại, Q sử dụng chìa khóa đã đánh sẵn, mở hộc bàn lấy tiền trộm của Công ty số tiền 8.000.000đ. Vụ 2: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 22/8/2024, Lê Hồng Q tiếp tục mở hộc bàn cất tiền lấy trộm của Công ty số tiền 7.000.000đ. Vụ 3: Khoảng 19 giờ ngày 23/8/2024, Lê Hồng Q tiếp tục mở hộc bàn lấy trộm số tiền 7.230.000đ, rồi mở cửa Công ty đi chơi nhưng quên đóng cửa. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, chủ Công ty là chị Phan Thị X (sinh năm 1985, trú tại: phường T, tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) mở camera giám sát thì phát hiện cửa Công ty đang mở, nghi ngờ bị mất tài sản nên gọi điện thoại cho anh Ngh đến kiểm tra. Anh Ngh đến Công ty kiểm tra thì phát hiện tiền để trong hộc bàn làm việc bị mất nên đã đi kiểm tra tủ cá nhân của nhân viên trong Công ty. Khi kiểm tra tủ của Q, anh Ngh phát hiện bên trong có 01 cọc tiền lẻ tổng cộng 230.000đ, gồm các tờ tiền mệnh giá từ 5.000đ trở xuống nên nghi ngờ Q lấy trộm tiền. Sau đó, anh Ngh đã liên lạc cho Q nhưng không được, đến khoảng 02 giờ ngày 24/8/2024, Q quay về Công ty và bị anh Ngh hỏi về số tiền trên thì Q đã thừa nhận việc lấy trộm tiền của Công ty. Anh Ngh đã cùng chị X đưa Q đến Công an phường Ph để làm việc. Tại bản cáo trạng số 322/CT-VKSNT ngày 18/11/2024, Viện kiểm sát nhân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Lê Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Hồng Q từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại Công ty TNHH Nh - (Người đại diện theo pháp luật bà Phan Thị X), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Quốc Ngh, bà Lê Đoàn Th đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của họ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định ngày 19/8/2024, tại Công ty TNHH Nh, địa chỉ: Lô 70 đường A5, khu đô thị VCN, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang, Lê Hồng Q đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, trị giá 22.230.000đ (hai mươi hai triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) của Công ty TNHH Nh. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người khỏe mạnh nhưng lười lao động mà lấy việc trộm cắp tài sản của người khác để có tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, xem thường quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại Công ty TNHH Nh đã nhận đủ tiền. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Quốc Ngh, bà Lê Đoàn Th đều vắng mặt không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Hồng Q. Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng Q 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2024. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH Nh đã nhận đủ tiền. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Quốc Ngh, bà Lê Đoàn Th đều vắng mặt không có yêu cầu gì nên không xem xét. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Lê Hồng Q nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ