- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Khắc A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Khắc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 288/2023/HSST Ngày 21/11/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Trần Vĩnh;
Bà Lê Thị Huệ.
- Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 287/2023/TLST-HS, ngày 27/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2023/HSST-QĐ ngày 06/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Khắc A; sinh năm 2001 tại Hải Dương; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn S, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; Nơi ở trước khi bị bắt: Số 11, ngõ 197 Đại La, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Phạm Khắc B; Sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Chở hàng thuê); Họ và tên mẹ: Đỗ Thị C; Sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Danh chỉ bản số 387 do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 20/7/2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt giữ trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang ngày 13/7/2023; Hiện đang bị tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Anh Vũ Đình B, sinh năm 2003; Địa chỉ: Khu đô thị V, xã V, huyện Hoài F, thành phố Hà Nội.
2. Anh Kiều Trí C, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
3. Anh Phạm Văn D, sinh năm 2003; Địa chỉ: Tổ 2, phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
4. Anh Lục Văn E, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khu dân cư Kim C, thị trấn B, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
5. Anh Nguyễn Trung F, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khu 1, chung cư A, phường P, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
6. Chị Vũ Thị G, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn L, xã Kim Chung, huyện Hoài F, thành phố Hà Nội.
Những người bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Do thiếu tiền tiêu xài, bị cáo Phạm Khắc A nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chuẩn bị 01 balo, bên trong có 02 tuốc nơ vít, 02 cờ lê, 01 B chìa, 01 ô, 01 áo chống nắng, đi lang thang tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Hồi 16 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, bị cáo đi B quanh khu tái định cư Phú Diễn, thấy quán game ở số 16 ngõ 172 Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội của anh Kiều Trí Phú đang mở cửa và hầm để xe không ai trông giữ liền đi vào hầm để xe. Tại đây, bị cáo phát hiện 01 xe máy Honda Wave Alpha màu đen, mang BKS: 29V5-59270 của anh Kiều Trí C không khóa cổ, khóa càng nên dùng tuốc nơ vít mang theo, tháo mặt nạ xe để đấu điện. Lúc này, anh Phú ở trong quán xem camera phát hiện bị cáo đang trộm cắp tài sản nên đóng cửa cuốn của quán lại và cùng anh C đi xuống hầm. Bị cáo tháo được 03 ốc vít để vào trong balo thì thấy cửa quán đóng lại nên bỏ chạy. Khi bị cáo chạy được khoảng 100m thì bị Công an phường Phú Diễn cùng anh Phú, anh C bắt giữ.
Chủ sở hữu xe là ông Kiều Trí Hùng, bố đẻ anh C. Ông Hùng đã cho anh C chiếc xe trên để sử dụng. Ngày 29/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe máy và 03 ốc vít cho anh C. Anh C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Ngoài hành vi trộm cắp xe máy trên, từ ngày 13/5/2023 đến ngày 13/7/2023, bị cáo A đã thực hiện 05 vụ trộm cắp xe máy với thủ đoạn tương tự, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ 00 ngày 13/5/2023, bị cáo A đi B trên đường Xuân Phương thuộc phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khi đi đến số 113 đường Xuân Phương, bị cáo phát hiện 01 xe máy Honda wave màu đen mang BKS: 36M5-15016 (trị giá 14.000.000 đồng) của anh Lục Văn E để ở sân không khóa cổ, không có người trông giữ. Bị cáo tiến đến xe máy, dùng tuốc nơ vít tháo mặt nạ rồi đấu điện xe, nổ máy và điều khiển xe đi. Trên đường đi bị cáo đã tháo bỏ biển kiểm soát. Xe máy này bị cáo mang về cất tại phòng trọ của bị cáo tại số 11 ngõ 197 đường Đại La, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, lắp biển số 29B1-13868 và sử dụng làm phương tiện đi lại. Chủ sở hữu xe là bà Hoàng Thị Dung. Sau khi mua xe, bà cho con trai là anh Lục Văn E. Ngày 10/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe máy cho anh E. Anh E đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
- Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11/6/2023, bị cáo A điều khiển xe máy Honda Wave mang BKS: 29B1-13868 đến gửi tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội rồi đi B quanh khu vực khu đô thị liền kề Athena thuộc phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến khu liền kề 01 Athena, bị cáo phát hiện 01 xe máy Honda Wave Alpha BKS: 35E1-03229 (trị giá 13.000.000 đồng) của anh Nguyễn Trung F để ở sân, không khóa cổ, không có người trông giữ nên đi đến dùng tuốc nơ vít tháo mặt nạ xe rồi đấu điện nổ máy xe, điều khiển xe đến hầm tòa nhà Dolphine Plaza, số 28 Trần Bình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội cất giấu. Khoảng 02 tuần sau, bị cáo đến tòa nhà Dolphine Plaza điều khiển xe máy Honda Wave Alpha BKS: 35E1-03229 đến số 2 Tôn Thất Thuyết, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bán cho một người không quen biết (không xác định được nhân thân, lại lịch) với giá 7.000.000 đồng. Số tiền bán xe bị cáo đã tiêu xài hết. Chủ sở hữu xe máy là ông Nguyễn Văn Doãn. Sau khi mua xe, ông Doãn đã cho con trai là anh Nguyễn Trung F. Ngày 09/10/2023, bị cáo A đã tác động gia đình bồi thường cho anh F số tiền 15.000.000 đồng. Anh F không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Vụ thứ ba: Khoảng 17 giờ 00 ngày 12/7/2023, bị cáo A mang balo đi xe buýt đến đường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khi đi đến vỉa hè trước cửa nhà số 10, ngõ 139 đường Phú Diễn, bị cáo phát hiện chiếc xe máy Honda Wave mang BKS: 98D1-96405 (trị giá 13.000.000 đồng) của anh Phạm Văn D, không khóa cổ, không có người trông giữ nên dùng tuốc nơ vít tháo mặt nạ xe rồi đấu điện, nổ máy xe và điều khiển xe máy, cất giấu tại hầm xe tòa nhà Dolphine Plaza, số 28 Trần Bình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ngày 25/8/2023, cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cho anh D. Anh D nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
- Vụ thứ tư: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 12/7/2023, bị cáo A mang balo đi B đến khu đô thi Vân Canh, xã Vân Canh, huyện Hoài F, thành phố Hà Nội. Khi đi đến bãi xe BT03-12 khu đô thị Vân Canh, phát hiện 01 xe Honda Wave màu trắng BKS: 99G1-68416 (trị giá 16.000.000 đồng) của anh Vũ Đình B không khóa cổ, không có người trông giữ nên dùng tuốc nơ vít tháo mặt nạ xe rồi đấu điện, nổ máy xe và điều khiển xe máy đi về cất giấu tại phòng trọ của bị cáo tại số 11, ngõ 197. đường Đại La, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Ngày 25/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ả lại xe máy cho anh B. Anh B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
- Vụ thứ năm: Khoảng 15 giờ 00 ngày 13/7/2023, bị cáo A đi xe buýt đến khu vực phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khi đi đến sân khu tập thể số 3, ngõ 296 đường Cầu Diễn thuộc phường Minh Khai, bị cáo phát hiện 01 xe máy Honda Wave Alpha BKS: 17B3-71183 (trị giá 16.000.000 đồng) của chị Vũ Thị G không khóa cổ, không có người trông giữ nên dùng tuốc nơ vít tháo mặt nạ xe rồi đấu điện, nổ máy xe và điều khiển xe máy đi đến cất giấu tại hầm gửi xe của tòa nhà Dolphine Plaza số 28 Trần Bình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội để chờ khi nào có cơ hội thì sẽ đi tiêu thụ tài sản. Chủ sở hữu xe máy là ông Vũ Văn Thuận. Sau khi mua xe, ông đã cho chiếc xe trên cho con gái là chị Vũ Thị G. Ngày 25/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe máy trên cho chị G. Chị G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Vật chứng thu giữ của bị cáo: 01 balo dạng vải, màu đen, kích thước 45x40cm, nhãn hiệu đính trên balo “DELL” bên trong có: 01 ô cầm tay, họa tiết caro, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi chai màu đen, logo in trên mũ kí hiệu “NIKE”; 01 chiếc áo dài tay họa tiết caro màu xanh-đen-trắng; 01 tuốc nơ vít chuôi gỗ, kích thước 2x22cm; Tuốc nơ vít kích thước 3x25cm; 03 ốc vít, màu đen, hình trụ, kích thước 1,5x1,5cm; 02 cờ lê màu bạc, chiều dài 15cm; 01 B chìa lục giác, chứa 07 thanh lục giác, đế nhựa màu cam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe máy Honda Wave màu xanh bạc BKS: 98D1-96405 đã qua sử dụng; 01 xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc BKS: 17B3-71183 đã qua sử dụng; 01 xe máy Honda Wave Alpha màu đen BKS: 29B1-13868; 01 xe máy Honda Wave Alpha màu trắng BKS: 99G1-64816; Số tiền: 2.000.000 đồng; Thu giữ của anh Kiều Trí C: 01 xe máy Honda wave BKS: 29V5-59270 và 01 USB lưu trữ dữ liệu hình ảnh vụ trộm cắp xe máy của anh C.
Tại Kết luận định giá tài sản số 573 ngày 07/8/2023 và Kết luận định giá tài sản số 772 ngày 04/10/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm kết luận:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu đen-bạc BKS: 29V5-59270, số khung 3929LY010703, số máy JA39E2010720, xe đã qua sử dụng, trị giá 13.000.000 đồng.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu xanh-bạc BKS: 98D1-96405, số khung RLHJA3921NY520207, số máy JA39E2984792, xe đã qua sử dụng, trị giá 15.000.000 đồng.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu xanh-đen BKS: 17B3-71183, số khung RLHJA3925PY404740, số máy JA39E3013377, xe đã qua sử dụng, trị giá 16.000.000 đồng.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu C trắng-bạc BKS: 35E1-03229, số khung RLHJA3922NY41735, số máy JA39E2835532, tài sản không thu giữ được, xe đã qua sử dụng, có hình ảnh chụp trước khi xảy ra sự việc, trị giá 13.000.000 đồng.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu đen, số khung RLHJA3926NY743472, số máy JA39E2959067, xe đã qua sử dụng, trị giá 14.000.000 đồng.
Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 85.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 5482 ngày 17/8/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 29V5 – 59270, số khung nguyên thủy: 3929LY010703, số máy nguyên thủy: JA39E2010720.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 98D1-6405, số khung nguyên thủy: RLHJA3921NY520207, số máy nguyên thủy: JA39E2984792.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 17B3-71183, số khung nguyên thủy: RLHJA3925PY404740, số máy nguyên thủy: JA39E3013377.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 29B1-13868, số khung nguyên thủy: RLHJA326NY743472, số máy nguyên thủy: JA39E2959067.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 99G1-68416, số khung nguyên thủy: RLHJA3922PY496762, số máy nguyên thủy: JA39E3122402.
Không giám định 05 biển kiểm soát: 29V5 – 59270, 98D1-6405, 17B3-71183, 29B1-13868, 99G1-68416 do không có mẫu so sánh.
Việc bị cáo A cất giấu xe máy tại hầm tòa nhà Dolphine Plaza, số 28 Trần Bình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Bị cáo gửi xe có vé nên không ai biết hai chiếc xe bị cáo gửi là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lí. Phòng trọ tại số 11 ngõ 197 đường Đại La, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là nơi bị cáo ở và giấu 02 xe máy, xác định là bị cáo ở trọ một mình nên không ai biết việc bị cáo cất giấu xe máy đã trộm cắp.
Về dân sự: Những người bị hại đã được nhận lại tài sản, là anh E, anh B, anh D, chị G và anh F đã được bị cáo tác động gia đình bồi thường giá trị tài sản không thu hồi được nên đều không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Bị hại, anh Kiều Trí C đã nhận lại 03 ốc vít, màu đen, hình trụ, kích thước 1,5x1,5cm bị cáo tháo từ xe máy của anh.
Bị hại Nguyễn Trung F có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 285/CT-VKS, ngày 25/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Phạm Khắc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của B luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của B luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Khắc A mức án từ 42 đến 48 tháng tù; Về dân sự: Không; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 balo dạng vải, màu đen, kích thước 45x40cm, nhãn hiệu đính trên balo “DELL” bên trong có: 01 ô cầm tay, họa tiết caro, màu xanh; 01 mũ lưỡi chai màu đen, logo in trên mũ kí hiệu “NIKE”; 01 chiếc áo dài tay họa tiết caro màu xanh-đen-trắng; 01 tuốc nơ vít chuôi gỗ, kích thước 2x22cm; Tuốc nơ vít kích thước 3x25cm; 02 cờ lê màu bạc, chiều dài 15cm; 01 B chìa lục giác, chứa 07 thanh lục giác, đế nhựa màu cam; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo số tiền: 2.000.000 đồng; Lưu hồ sơ vụ án USB lưu trữ dữ liệu hình ảnh về hành vi trộm cắp xe máy của anh C do anh C giao nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 00 ngày 13/7/2023, tại số 16 ngõ 172 Phú Diễn, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bị cáo Phạm Khắc A đã lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt 01 xe máy Honda Wave BKS 29V5-59270 trị giá 13.000.000 đồng của anh Kiều Trí C thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài hành vi bị cáo A đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản lén lút chiếm đoạt 05 xe máy khác là: 01 xe máy Honda Wave BKS: 36M5-15016 của anh Lục Văn E, 01 xe máy Honda Wave BKS: 35E1-03229 của anh Nguyễn Trung F, 01 xe máy Honda Wave BKS: 98D1-96405 của anh Phạm Văn D, 01 xe máy Honda Wave BKS: 99G1-68416 của anh Vũ Đình B, 01 xe máy Honda Wave BKS: 17B3-71183 của chị Vũ Thị G. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 85.000.000 đồng.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi và thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự. Bị cáo tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cao gây ra (Bồi thường cho bị hại Nguyễn Trung F số tiền 15.000.000 đồng – giá trị chiếc xe máy bị cáo trộm cắp của anh F, không thu hồi được) - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự. Bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử, bị hại (anh Nguyễn Trung F) có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự.
4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 06 lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm nhiềm sự là phạm tội từ hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của B luật hình sự.
. Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
4.2. Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
. Về các vấn đề khác
5.1. Về dân sự: Những người bị hại là anh E, anh D, anh B và chị G đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh F số tiền 15.000.000 đồng giá trị tài sản không thu hồi được, anh F không yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Số tiền bị cáo nhận do bán tài sản trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave Alpha mang biển kiểm soát 35E1-03229 của anh Nguyễn Trung F là 7.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh F số tiền 15.000.000 đồng, nhiều hơn so với trị giá của chiếc xe và số tiền bị cáo bán xe mà có nên không buộc bị cáo phải nộp sung quỹ số tiền này.
5.2. Về vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ: 01 tuốc nơ vít chuôi gỗ, kích thước 2x22cm; Tuốc nơ vít kích thước 3x25cm; 02 cờ lê màu bạc, chiều dài 15cm; 01 B chìa lục giác, chứa 07 thanh lục giác, đế nhựa màu cam là công cụ, phương tiện bị cáo chuẩn bị để thực hiện hành vi trộm cắp cần tịch thu tiêu hủy; Chiếc balo dạng vải, màu đen, kích thước 45x40cm, nhãn hiệu đính trên balo “DELL”, 01 ô cầm tay, họa tiết caro, màu xanh, 01 mũ lưỡi chai màu đen, logo in trên mũ kí hiệu “NIKE”, 01 chiếc áo dài tay họa tiết caro màu xanh-đen-trắng đều đã cũ, không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có nhu cầu nhận lại và chiếc biển kiểm soát xe máy 29B1-138.68 bị cáo gắn vào xe trộm cắp để sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Bị hại, anh Kiều Trí C đã nhận lại 03 ốc vít, màu đen, hình trụ, kích thước 1,5x1,5cm bị cáo tháo từ xe máy. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng là phương tiện để bị cáo liên lạc đối với người mua tài sản trộm cắp, có giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ. Số tiền: 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Chiếc 01 USB do anh C giao nộp lưu trữ dữ liệu hình ảnh vụ trộm cắp xe máy của anh C là tài liệu liên quan đến vụ án nên cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
5.2. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Khắc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Điều luật áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của B luật Hình sự; Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 của B luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Khắc A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2023.
4. Các vấn đề khác:
4.1. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 balo dạng vải, màu đen, kích thước 45x40cm, đã qua sử dụng, nhãn hiệu đính trên balo “DELL”; 01 ô cầm tay, họa tiết caro, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi chai màu đen, logo in trên mũ kí hiệu “NIKE”; 01 chiếc áo dài tay họa tiết caro màu xanh-đen-trắng; 01 tuốc nơ vít chuôi gỗ, kích thước 2x22cm; Tuốc nơ vít kích thước 3x25cm; 02 cờ lê màu bạc, chiều dài 15cm; 01 B chìa lục giác, chứa 07 thanh lục giác, đế nhựa màu cam; biển kiểm soát xe máy 29B1-138.68; Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo số tiền: 2.000.000 đồng; Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB lưu trữ dữ liệu hình ảnh về tội phạm; Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 43/24 ngày 08/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
4.2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng;. - Tòa án nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm; - Công an quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |