vanban.org

Bản án 287/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N là Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thuộc Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an Thành phố H; địa chỉ: Ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chấp hành đưa đi cai nghiện bắt buộc là 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 287/2026/QĐ-TA
TP. Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 8 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Vũ Linh.

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Ly.

Ngày 04 tháng 8 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh (đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) và điểm cầu thành phần tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thuộc Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an Thành phố H (xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 276/2026/QĐ-TA ngày 30 tháng 7 năm 2026 đối với :

Trần Văn N, sinh ngày 10/4/2003 tại tỉnh An Giang; thường trú: Tổ 4 ấp P, xã N, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; căn cước công dân số 0892.0301.6205; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; con ông Trần Văn T và con bà Nguyễn Thị D; tiền án, tiền sự: Không có. Có mặt tại phiên họp

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đoàn Trọng Hiếu - Cán bộ Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (quyết định phân công số 74 ngày 03/8/2026)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 07/6/2026, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Văn N do có hành vi sử dụng chất ma túy trái phép, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai và tại phiên họp N thừa nhận việc sử dụng ma túy, sử dụng từ năm 2020, 01 tuần sử dụng ma túy 02 lần, lần gần nhất sử dụng là ngày 30/5/2026. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế phường T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định N nghiện ma túy loại Methamphetamine.

Ngày 08/6/2026, Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 74/QĐ-CAP về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N và lập biên bản về việc giao N cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thuộc Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an Thành phố H quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Trần Văn N sử dụng ma túy dẫn đến nghiện, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, không có nơi cư trú ổn định. Đề nghị đưa N đi cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng.

- Ý kiến của người bị đề nghị: Không có ý kiến.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh: Trong quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, Cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 và Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10 tháng 6 năm 2026 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ, lời khai của Trần Văn N về việc sử dụng ma túy dẫn đến nghiện, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Đề nghị phiên họp chấp nhận quan điểm đưa N đi cai nghiện bắt buộc.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và ý kiến của người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Căn cứ khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, 2025; khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10 tháng 6 năm 2026 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C - Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao thì Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý xem xét là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Văn N ngày 07/6/2026 do N sử dụng ma túy trái phép, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Ngày 28/7/2026, Tòa án thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về nơi cư trú: Căn cứ hồ sơ thu thập, trình bày tại phiên họp của Trần Văn N, thể hiện N không có nơi cư trú ổn định.

Về nội dung xem xét: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của Trần Văn N tại phiên họp thể hiện Nở sử dụng ma túy dẫn đến nghiện, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine; N không có nơi cư trú ổn định. Như vậy N là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 31 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025

Trần Văn N là người đã thành niên biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng. Việc làm này là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, việc Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét đưa N đi cai nghiện bắt buộc là cần thiết, đúng pháp luật. Tuy nhiên cũng xem xét N có những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc cũng như tại phiên họp Trần Văn N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tình tiết trên được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025

Về nhân thân: Trần Văn N có nhân thân xấu thể hiện việc không có nghề nghiệp ổn định, sử dụng ma túy trong thời gian dài.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc đưa Trần Văn N đi cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N là Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thuộc Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an Thành phố H; địa chỉ: Ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Thời gian chấp hành đưa đi cai nghiện bắt buộc là 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc.

3. Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị; người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thuộc Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an Thành phố H có trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ