- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh H - Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt; Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định c…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 287/2023/HS-ST Ngày: 24-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Quốc Hưng
Ông Phạm Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Minh H; Sinh năm 1984 tại Thành phố E; Căn cước công dân số: XXXXXXXXX510; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A đường B, Phường C, quận D, Thành phố E; Nơi cư trú: Số A khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh E; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; Có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Văn Ch, Luật sư của Công ty luật TNHH Hải Nam Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Bị hại:
1. Bà Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1992; Địa chỉ thường trú: Số A đường B, phường C, thành phố D. (Vắng mặt) 2. Bà Trần Thu Th, sinh năm 1996; Địa chỉ thường trú: Số A đường B, Khu phố C, phường D, thành phố E. (Vắng mặt) 3. Bà Hoàng Thị Vân A, sinh năm 1992; Địa chỉ thường trú: Số A Quốc lộ B, phường C, thành phố D. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ, ngày 16/01/2023, Võ Minh H điều khiển xe mô tô hiệu Wave RS, màu đỏ đen bạc, biển số 54U5- 2137 đến trước trường Tiểu học X; Địa chỉ: Số A Tỉnh lộ B, phường C, thành phố D, Thành phố E rồi đi bộ vào cổng trường, đi theo hành lang bên trái vào phòng học của lớp 2/3 lấy trộm số tiền 2.000.000 đồng trong bóp tiền màu hồng của chị Huỳnh Thị Kim T để trong ba lô màu xám trắng đặt trên bàn giáo viên rồi bỏ tiền vào trong túi quần bên phải H đang mặc. Sau đó, H tiếp tục đi lên cầu thang tầng 1 đến phòng học lớp 5/8 đến vị trí ghế giáo viên lấy trộm số tiền 13.000.000 đồng để trong ví màu nâu trong giỏ xách màu xanh của chị Trần Thu Th rồi bỏ tiền vào trong túi quần bên phải H đang mặc. H tiếp tục đi theo hành lang lầu 1 đến phòng học lớp 4/1 vào vị trí ghế giáo viên lấy trộm số tiền 300.000 đồng trong túi xách màu hồng của chị Hoàng Thị Vân A rồi bỏ tiền vào trong túi quần bên phải H đang mặc. Sau đó, H đi bộ ra cổng, điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Đến khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 18/01/2023, H phát hiện trên mạng xã hội có đăng video clip ghi nhận hình ảnh H đột nhập lấy trộm tài sản tại Trường tiểu học X và tẩu thoát cùng xe mô tô biển số 54U5-2137 nên H đến Công an phường Bình Chiểu đầu thú, giao nộp tài sản và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên vào lúc 17 giờ 00 phút, cùng ngày 18/01/2023. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Võ Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội. Vật chứng:
- 15.300.000 đồng do Võ Minh H giao nộp. Ngày 19/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại cho các bị hại.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ, biển số 54U5- 2137, số máy: JC43E0846816, số khung: 430XAY042418 là tài sản riêng của H mua của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng vào tháng 7/2022 để làm phương tiện đi lại, nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe. Kết quả điều tra xác định xe trên do anh Nguyễn A (sinh năm 1966, Nơi thương trú: Số A đường B, Phường C, Quận D) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2019, anh Nguyễn A đã chết và không rõ người thân làm gì ở đâu.
- 01 áo sơ mi ngắn tay sọc xanh trắng; 01 cái quần vải màu đen; 01 ba lô màu tím đen có chữ CĐCS Green-Vina màu trắng thu giữ của Võ Minh H.
- 01 USB chứa 04 đoạn video clip ghi lại quá trình Võ Minh H vào Trường Tiểu học X thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại là chị Trần Thu Th, Huỳnh Thị Kim T, Hoàng Thị Vân A đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường có đơn xin bãi nại cho Võ Minh H.
Bản cáo trạng số 172/CT-VKSTPTĐ ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Võ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Võ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự xử phạt Võ Minh H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên và bào chữa cho bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo cho bị cáo hưởng mức án treo để có điều kiện đi làm nuôi gia đình có 3 con nhỏ.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Minh H khai nhận vào khoảng 07 giờ, ngày 16/01/2023, tại Trường Tiểu học X; Địa chỉ: Số A Tỉnh lộ B, phường C, thành phố D, Thành phố E đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 15.300.000 đồng của các bị hại. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Võ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật vì vậy, có một mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tự nguyện khắc phục hậu quả, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú, được bị hại bãi nại quy định tại các điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [7] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, xem xét cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. [8] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét. [9] Về xử lý vật chứng: Số tiền 15.300.000 đồng đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ, biển số 54U5- 2137, số máy: JC43E0846816, số khung: 430XAY042418 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, không xác định được chủ sở hữu nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 01 áo sơ mi ngắn tay sọc xanh trắng; 01 cái quần vải màu đen; 01 ba lô màu tím đen có chữ CĐCS Green-Vina màu trắng thu giữ của Võ Minh H không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy; 01 USB chứa 04 đoạn video clip ghi lại quá trình Võ Minh H vào Trường Tiểu học X thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cần tiếp tục lưu hồ sơ. [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Võ Minh H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Võ Minh H cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ, biển số 54U5- 2137, số máy: JC43E0846816, số khung: 430XAY042418;
Tịch thu, tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay sọc trắng; 01 cái quần vải màu đen; 01 ba lô màu tím đen có chữ CĐCS Green-Vina màu trắng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 102/QĐ-VKS ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho vật chứng ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Võ Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND thành phố Thủ Đức; - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thái Bình |