vanban.org

Bản án 287/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 13/12/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh H. Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M và H ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 287/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13-12-2023
V/v ly hôn, xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 05/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 về việc ly hôn, đề nghị xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236a/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 21/TB-TA ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Lão Phong, xã Tân Phong, huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh H, sinh năm 1975; quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan); nơi cư trú: Số 2 tầng 11, số 210 đường Văn Tân Nam 10, Xóm 004, phường Công Học, Khu Nam, thành phố Đài Trung, Lãnh thổ Đài Loan; vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Xuân Quang, sinh năm 1994; địa chỉ: Số 96/560 Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị M trình bày:

Chị Nguyễn Thị M và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 6 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, khi chung sống với nhau, giữa hai người xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hòa giải được. Nguyên nhân do khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, tính cách. Sau đó, đến năm 2019 chị M trở về Việt Nam chơi, sau đó do dịch bệnh Covid nên chị M không thể sang Đài Loan được. Đến nay, do xa cách lâu và nhận thấy không còn tình cảm với anh H nên chị M làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H không có con chung. Chị Nguyễn Thị M đề nghị Tòa án xác định anh Vũ Xuân Quang là cha đẻ của cháu Vũ Huyền Diệu Anh sinh ngày 03 tháng 10 năm 2022.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về bị đơn là anh HSU CHIH-CHUN: Anh H hiện đang ở Hàn Quốc, sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc để tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian tiến hành phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo thời gian mở phiên tòa cho anh H. Cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc đã có phản hồi là đã tống đạt cho người làm thuê của anh H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Xuân Quang trình bày: Năm 2021 anh có quen biết với chị Nguyễn Thị M. Hai người có tình cảm với nhau và chị M đã mang thai và ngày 03 tháng 10 năm 2022 đã sinh cháu dự định đặt tên là Vũ Huyền Diệu Anh. Anh khẳng định cháu Diệu Anh là con đẻ của anh. Nay chị M làm đơn xin ly hôn với anh H và đề nghị xác định anh là cha đẻ của cháu Diệu Anh, anh nhất trí.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký về cơ bản đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị M và anh H là đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 227, khoản 1 Ðiều 228 điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, 14, 51, 53, 56, khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M: Về quan hệ hôn nhân và gia đình, cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh H; về con chung, chị Nguyễn Thị M và anh H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; xác định anh Vũ Xuân Quang là cha đẻ của cháu tên dự định đặt là Vũ Huyền Diệu Anh sinh ngày 03 tháng 10 năm 2022; về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí và các chi phí khác: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí, và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh Hvà đề nghị xác định cha cho con đối với anh Phạm Hữu Hưng. Anh Hhiện đều đang cư trú tại Hàn Quốc, chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Hữu Hưng hiện cư trú tại thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về thủ tục tống đạt cho bị đơn và sự vắng mặt của các đương sự: Theo địa chỉ mà chị Nguyễn Thị M cung cấp, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc để tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H. Ngày 23 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã nhận được kết quả ủy thác tư pháp chưa tống đạt văn bản được cho anh H. Sau đó, Tòa án đã tiến hành đăng tải thông tin vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hàn Quốc. Tại phiên tòa mở lần thứ nhất vào ngày 26 tháng 12 năm 2022, anh Hvắng mặt, không có lý do, nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã hoãn phiên tòa, và ấn định ngày mở phiên tòa lần hai vào ngày 25 tháng 01 năm 2023, sau đó có thông báo thay đổi lịch mở phiên tòa lần hai vào ngày 27 tháng 01 năm 2023. Vì vậy, căn cứ điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hữu Hưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị M và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng vào ngày 29 tháng 01 năm 2019. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Ngô Cẩm V khai nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị và anh H do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn tình cảm và yêu thương lẫn nhau, hai bên đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Từ đó giữa chị và anh H không giữ liên lạc với nhau, không còn quan tâm, yêu thương nhau. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M là chính đáng, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Theo lời khai của chị Nguyễn Thị M giữa chị và anh H không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Chị Nguyễn Thị M trình bày trong thời kỳ hôn nhân với anh HSU, CHIH - CHUN chị có con với anh Vũ Xuân Quang và đề nghị Tòa án xác định anh Vũ Xuân Quang là cha đẻ của cháu Vũ Huyền Diệu Anh sinh ngày 03 tháng 10 năm 2022. Theo kết quả phân tích ADN của Trung tâm xét nghiệm ADN Genplus thì anh Vũ Xuân Quang và cháu Vũ Huyền Diệu Anh sinh ngày 03 tháng 10 năm 2022 có quan hệ huyết thống cha - con. Anh Quang cũng thừa nhận và đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Vũ Huyền Diệu Anh. Như vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M, xác định anh Vũ Xuân Quang là cha đẻ của cháu tên dự định đặt là Vũ Huyền Diệu Anh sinh ngày 03 tháng 10 năm 2022.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Thị M phải chịu phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào 9, 14, 51, 53, 56, khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 1 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 4 và điểm c khoản 5 Điều 477, khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh H.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Xác định anh Vũ Xuân Quang là cha đẻ của cháu tên dự định đặt là Vũ Huyền Diệu Anh sinh ngày 03 tháng 10 năm 2022.

4. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0000890 ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

6. Về phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) phí ủy thác tư pháp để tống đạt Văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H, được trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0000891 ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền phí ủy thác tư pháp.

Chị Nguyễn Thị M còn phải chịu chi phí ủy thác để tống đạt bản án cho anh H.

7. Về quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày tuyên án.

8. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ