- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức Xế- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 287/2021/HSST Ngày: 16-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Bảo – Cán bộ nghỉ hưu
Bà Trần Thị Liên – Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 278/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021; Quyết định hoãn phiên toà số 278/2021/HSST-QĐ ngày 29-10-2021 đối với bị cáo:
Vũ Đức X; sinh năm 1974; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Thái Bình; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú tại: Số nhà 29/326 đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Đức X (đã chết); con bà: Phạm Thị Q, sinh năm 1948; gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; có vợ: Nguyễn Thị M (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ 27-7-2021 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).
Bị hại:
1. Cháu Trần Thị Kiều L, sinh ngày 18-7-2004; nơi đăng ký hộ khẩu: Số 6 Đ, phường L, thành phố N; nơi cư trú tại: Số nhà 29/326 đường đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn xin vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu L: Chị Trần Thị H, sinh năm 1979 (là mẹ đẻ cháu L); đăng ký hộ khẩu tại: Số 6 Đ, phường L, thành phố N; nơi cư trú tại: Số nhà 29/326 đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có mặt)
2. Cháu Vũ Hải P, sinh ngày 02-02-2004; nơi cư trú tại: Số nhà 7/6/49 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn xin vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu P: Chị Đoàn Thị Trung T, sinh năm 1979 (là mẹ đẻ cháu P); nơi cư trú tại: Số nhà 7/6/49 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn xin vắng mặt)
Người làm chứng: Cháu Trần Đăng K, sinh ngày 15/12/2004 và người đại diện hợp pháp của cháu K là: Chị Trần Thị Thu H (là mẹ đẻ cháu K; cùng nơi cư trú tại: 136 đường L, phường L, thành phố N. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Đức X chung sống như vợ chồng với chị Trần Thị H, sinh năm: 1979, trú tại: Số 6 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cả hai thuê trọ và sống cùng cháu Trần Thị Kiều L (là con riêng của chị H) tại 29/326 đường T, phường M, thành phố N. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26-7-2021, cháu L điều khiển xe máy điện màu đỏ đen biển kiểm soát 29MĐ1-70046 của Vũ Hải P (là bạn của L) chở cháu P về nhà rồi cháu L điều khiển xe máy điện đi về nhà và để xe trước cửa nhà. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi đi uống rượu về, X về nhà thì thấy tại khu vực sân trước cửa nhà có để chiếc xe máy điện của cháu P. Lúc này, X quát và chửi L về việc để xe không gọn gàng, làm vướng lối đi lại, đồng thời dùng chân phải đạp 01 cái trúng vào xe máy điện làm xe máy bị đổ xuống sân nhưng không bị vỡ hay hư hỏng gì. Sau đó, L gọi điện cho P thông báo xe máy điện của P bị X đập phá và bảo P đến lấy xe. P nhờ bạn là Trần Đăng K, sinh ngày 15/12/2004, trú tại: 136 L, phường L, thành phố N điều khiển xe máy chở P đến nhà L. Đến nơi, P và K không thấy ai trong nhà nên đi vào phòng ngủ của L rồi cả ba đi ra ngoài cổng đứng nói chuyện. Lúc này, X lấy 01 con dao dạng dao gọt hoa quả dài khoảng 30 cm, đầu bằng, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 18 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, bản rộng 4cm trên mặt tủ lạnh để ngoài phòng khách dắt vào túi quần phía sau bên phải rồi đi ra khu vực cổng với mục đích hành hung nhóm bạn của L. X đi ra ngoài sân gặp L, P, Kh và nói: “Chúng mày đi xe đến thì phải để gọn vào”. P trả lời “Chú có điện thoại của cháu rồi sao không gọi cháu đến lấy mà lại đập phá xe của cháu vậy, như vậy là hủy hoại tài sản của người khác”. X bực tức đe dọa “Chúng mày có tin tao cứa cổ chúng mày không” rồi lao đến dùng chân phải định đạp P nhưng lại đạp trúng vào vùng bụng của L làm L ngã ra ngõ. P lao vào can thì X dùng tay phải rút dao ở phía túi quần sau rồi chém liên tiếp về phía người P trúng vào vùng mặt và cổ bên trái gây rách da chảy máu. Thấy vậy L chạy vào can ngăn thì X tiếp tục dùng dao chém 01 phát trúng vào mu bàn tay trái của L và làm rơi dao xuống đất. L nhặt con dao ném ra bãi đất trống gần đó. Sau đó L, P và Kh đẩy X ra và bỏ chạy về đầu ngõ 326 đường Tô Hiến Thành. L và P được đưa vào bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định cấp cứu và điều trị với thương tích: P bị 01 vết rách da mắt trái dài 3 cm, 01 vết thương má trái dài 5 cm, 01 vết thương má trái dài 2 cm, 01 vết thương cổ trái dài 4 cm; L bị thương tích 01 vết thương mu bàn tay trái dài 5 cm, đứt gân duỗi ngón 3,4,5 bàn tay trái. Ngay sau khi biết được vụ việc, chị Đoàn Thị Trung Thủy, sinh năm: 1979, trú tại: Số nhà 7/6/49 đường Đ, phường L, thành phố N là mẹ của P đã lên Công an phường M, thành phố N trình báo.
Ngày 27-7-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Đức X.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 66/21/TgT ngày 28/7/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của cháu P là 13%. Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích vùng mặt, cổ do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 67/21/TgT ngày 28/7/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của cháu L là 02%. Cơ chế hình thành vết thương: Vết rách da mu bàn tay trái do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Ngày 28-7-2021 cháu Trần Thị Kiều L có đơn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N ra Quyết định khởi tố vụ án, ra Quyết định khởi tố bị can đối với Vũ Đức X về tội: “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 11-8-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N đã trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích bổ sung đối với Vũ Hải P và Trần Thị Kiều L.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 76/21/TgT ngày 11-8-2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của cháu P là 16%. Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã liền sẹo do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Các vết biến đổi rối loạn sắc tố da do vật có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 77/21/TgT ngày 11/8/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của cháu L là 02%. Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích mu bàn tay trái do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đức X, cháu Vũ Hải P, cháu Trần Thị Kiều L và cháu Trần Đăng Kh khai toàn bộ nội dung sự việc như trên. Bị cáo X đã giao nộp một con dao là hung khí X đã sử dụng chém gây thương tích cho cháu P và cháu L.
Về trách nhiệm dân sự: Cháu Vũ Hải P và cháu Trần Thị Kiều L cũng như đại diện hợp pháp của các cháu không yêu cầu Vũ Đức X phải bồi thường.
Bản Cáo trạng số 282/CT-VKSTPNĐ ngày 01-10-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Vũ Đức X về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà: Bị cáo Vũ Đức X khai: Bị cáo và cháu Trần Thị Kiều L và cháu Vũ Hải P không có mâu thuẫn từ trước và thành khẩn, ăn lăn hối hận về hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Người đại diện hợp pháp của bị hại là cháu Trần Thị Kiều L đồng ý với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích và không có ý kiến gì về lời khai của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Đức X phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về dân sự do bị hại đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 con dao là vật chứng của vụ án.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Chị Trần Thị Hoa đại diện hợp pháp của cháu L trình bầy đã nhận bồi thường nay không yêu cầu bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Do bị cáo uống rượu say không làm chủ được hành vi, bản thân bị cáo không có mâu thuẫn gì với các bị hại nay rất hối hận về hành vi của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức X và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đức X, lời khai của người bị hại, người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 26-7-2021, tại số nhà 29/326 đường đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định, do mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt Vũ Đức X đã dùng dao dạng dao gọt hoa quả dài khoảng 30 cm, đầu bằng, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 18 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, bản rộng 4cm chém cháu Vũ Hải P tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 16 % và cháu Trần Thị Kiều L tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 2%. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào người cháu L và cháu P là hành vi có tính chất côn đồ. Hành vi của bị cáo đã gây ra hậu quả thiệt hại sức khỏe cho cháu Trần Thị Kiều L và cháu Vũ Hải P và mong muốn hậu quả xảy ra, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS. Nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Về tình tiết tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường cho cháu L; đại diện hợp pháp của cháu P, đại diện hợp pháp của cháu L không yêu cầu bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đối chiếu với các quy định của BLHS xét thấy: Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sức khỏe của công dân được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại điện hợp pháp của bị hại không yêu cầu giải quyết bồi thường; do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Con dao bị cáo Vũ Đức X sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Vũ Đức X bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức X: 27 (Hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27-7-2021.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy con dao đã thu giữ (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04-10-2021 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án Dân sự thành phố N).
3. Án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Vũ Đức X phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Đức X, chị Trần Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; cháu Trần Thị Kiều L, cháu Vũ Hải P và chị Đoàn Thị Trung T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại;người đại diện hợp pháp của bị hại. - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. CÁC HỘI THẨM | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Công Khánh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Công Khánh |