vanban.org

Bản án 287/2019/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/03/2019 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thị Thanh T- Ủy ban nhân dân Quận A"
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!!
Bản án số: 287/2019/HC-ST
Ngày: 27-3-2019
V/v khiếu kiện quyết định hành

chính về quản lý nhà nước trong

lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp

bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt

bằng, tái định cư.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Đào Quốc Thịnh

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:""""""""""" Ông Nguyễn Văn Long

Ông Nguyễn Thành Châu

- Thư ký phiên tòa:!Ông!Nguyễn Trọng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lân - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 14/3/2019, ngày 21/3/2019 và ngày 27/3/2019, tại trụ sở

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành

chính sơ thẩm thụ lý số 146/2015/TLST-HC ngày 19/11/2015 về việc:“Khiếu"

kiện"quyết"định"hành"chính"về"quản"lý"nhà"nước"trong"lĩnh"vực"đất"đai""thuộc"

trường"hợp"bồi"thường,"hỗ"trợ"giải"phóng"mặt"bằng,"tái"định"cư”"theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 597/2019/QĐXXST-HC ngày 18/02/2019, giữa các

đương sự:

Người"khởi"kiện: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1954

Thường trú: 83/5 B, Phường 12, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết G,

sinh năm 1985 (có mặt ngày 14/3 và 21/3, vắng mặt ngày tuyên án 27/3)

Thường trú: 81/26B phường X, thị xã D, tỉnh H.

Người"bị"kiện:

1. Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh!(có đơn đề nghị

xét xử vắng mặt)

Trụ sở: 168 T, phường M, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

Ông Trần Tuấn K – Phó Trưởng ban Bồi thường giải phóng mặt bằng

Quận A (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bà Phan Thị Minh L – Trưởng phòng Tiếp công dân Ban Bồi thường

giải phóng mặt bằng Quận A (có mặt)

Bà Huỳnh Thị Kim O – Nhân viên Phòng Tiếp công dân Ban Bồi

thường giải phóng mặt bằng Quận A (có mặt)

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn

đề nghị xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

Ông Trần Tuấn K – Phó Trưởng ban Bồi thường giải phóng mặt bằng

Quận A (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bà Phan Thị Minh L – Trưởng phòng Tiếp công dân Ban Bồi thường

giải phóng mặt bằng Quận A (có mặt)

Bà Huỳnh Thị Kim O – Nhân viên Phòng Tiếp công dân Ban Bồi thường

giải phóng mặt bằng Quận A (có mặt)

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh!(có đơn đề nghị

xét xử vắng mặt)

Trụ sở: 86 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

Ông Trần Tuấn K – Phó Trưởng ban Bồi thường giải phóng mặt bằng

Quận A (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bà Phan Thị Minh L – Trưởng phòng Tiếp công dân Ban Bồi thường

giải phóng mặt bằng Quận A (có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"người"khởi"kiện"-"bà"Nguyễn"Thị"Tuyết"

G"trình"bày:""

Ngày 30/8/1995, bà Nguyễn Thị Thanh T nhận chuyển nhượng từ ông

Nguyễn Hồng Hải phần diện tích đất 400m2 tại xã B (nay là!phường B, Quận A) bằng giấy tay. Năm 1998, bà T có dựng căn nhà mái lá, vách ván có diện tích khoảng 30m2.

Năm 1999, bà T thực hiện việc đăng ký kê khai nhà đất với diện tích

400m2, mục đích để ở nhưng không kê khai nhà. Năm 2001, bà T tiếp tục làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (Bản vẽ hiện trạng vị trí nhà đất do Trung tâm kiểm định bản đồ và tư vấn địa ốc thuộc Sở địa chính nhà đất thành phố lập ngày 25/10/2001 với diện tích xây dựng là 29.8m2, cấu trúc vách ván, mái lá).

Năm 2007, bà T bị giải tỏa một phần diện tích đất 158,4 m2 trong dự án

đầu tư xây dựng trường Trung học cơ sở Nguyễn Văn R. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án trường THCS Nguyễn Văn R năm 2007 của Công ty đo đạc địa chính & công trình Bộ Tài nguyên và Môi trường thì diện tích đất bà T còn lại sau khi thu hồi là 244,7m2.

Ngày 20/8/2012, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số

10325/QĐ-UBND-TTr thu hồi phần diện tích đất 233,8m2 đất để tổ chức bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đầu tư xây dựng trường học Nguyễn Văn R tại phường B, Quận 2.

Ngày 11/8/2014, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành!Quyết định số

3496/QĐ-UBND ngày 11/8/2014 (sau"đây"gọi"tắt"là"Quyết"định"số"3496) về

việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư đối với bà T, với nội dung:

Về!bồi thường, hỗ trợ về đất: Đất nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất (không mặt tiền đường): 233,8m² x 342.000 đồng/m² x

100% = 79.959.600 đồng; Hỗ trợ đất nông nghiệp trong địa giới hành chính

phường: 233,8m² x 2.051.000 đồng/m² x 50% = 239.761.900 đồng; Bồi

thường về cây trồng và hoa màu: 360.000 đồng; Về tái định cư: không đủ điều

kiện tái định cư. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư là:

320.081.500 đồng.

Không đồng ý với Quyết định số 3496, bà T đã khiếu nại Quyết định số

3496 yêu cầu bồi thường phần diện tích đất 244.7m2 theo đơn giá 10.000.000

đồng/m2 và tái định cư 01 nền đất.

Ngày11/12/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết

định số 5157/QĐ-UBND – TTr (sau" đây" gọi" là" Quyết" định" số" 5157)" với nội

dung bác đơn khiếu nại của bà T.

Sau đó bà tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh. Ngày 06/7/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh ban hành Quyết định số 3311/QĐ-UBND (sau"đây"gọi"là"Quyết"định"số"

3311)"với nội dung giữ nguyên Quyết định số 5157.

Bà T khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 3496, Quyết định số 5157

và Quyết định số 3311 vì những lý do sau:

- Về chênh lệch diện tích khi thu hồi đất:

Ngày 30/8/1995, bà T có nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Hồng Hải

phần diện tích đất 400m2 bằng giấy tay, có xác định ranh mốc rõ ràng. Theo bản

đồ hiện trạng vị trí phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án

Trường THCS Nguyễn Văn R thể hiện diện tích giải tỏa trong dự án là 158.4 m2,

diện tích còn lại 244.7m2 (thửa 33-2 tờ bản đồ số 2 Tài liệu đo năm 2003) được

Ủy ban nhân dân phường B ký xác nhận và được Phòng Tài nguyên và Môi

trường Quận A kiểm tra nội nghiệp. Trong khi đó Quyết định số 3496 chỉ bồi

thường, hỗ trợ 233,8m².

- Yêu cầu hỗ trợ bằng 40% đơn giá đất ở:

Do chính sách thay đổi từng thời kỳ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích

hợp pháp của bà T nên yêu cầu được áp dụng Điều 43 Nghị định 84/2007/NĐ-

CP ngày 25/5/2007 và khoản 1 Điều 22 Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND ngày

28/5/2010 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (sau" đây"gọi" tắt" là"

Quyết"định"35) để hỗ trợ 40% giá đất ở thay vì áp dụng Khoản 2 Điều 22 Quyết

định 35.

Ngoài ra, bà T yêu cầu yêu cầu Ủy ban nhân dân Quận A bồi thường

thiệt hại do thực hiện bồi thường chậm.

Ngày 20/8/2012, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số

10325/QĐ-UBND-TNMT thu hồi đất của bà T. Căn cứ khoản 2 Điều 43 Quyết định số 35: “Trong"thời"hạn"không"quá"5"ngày"làm"việc,"kể"từ"ngày"ra"Quyết"định" thu"hồi"đất,"giao"đất"hoặc"cho"thuê"đất,"cơ"quan"tài"nguyên"và"môi"trường"thẩm" định" phương" án" bồi" thường," hỗ" trợ" và" tái" định" cư”. Tuy nhiên đến ngày 27/06/2014, Ủy ban nhân dân Quận A mới ban hành Quyết định 2801/QĐ-UBND về duyệt Phương án bồi thường. Theo điểm d khoản 2 Điều 43 Quyết định 35 quy định: “"Trong"thời"giạn"không"quá"3"ngày,"kể"từ"ngày"nhận"được"phương"án"bồi" thường," hỗ" trợ" tái" định" cư" đã" được" phê" duyệt," Hội" đồng" bồi" thường" dự" án" có" trách"nhiệm"….gửi"quyết"định"bồi"thường,"hỗ"trợ"và"tái"định"cư"cho"người"có"đất" bị"thu"hồi"trong"đó"nêu"rõ"về"mức"bồi"thường,"hỗ"trợ","về"bố"trí"nhà"hoặc"đất"tái" định" cư" (nếu" có)”. Đến ngày 11/8/2014, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 3496 về việc bồi thường cho bà T là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T. Do đó, bà T đề nghị được bồi thường thiệt hại bằng với lãi suất gửi tiết kiệm tại ngân hàng theo hình thức lãi suất linh hoạt trong khoảng thời gian từ ngày 20/8/2012 (ngày ban hành quyết định thu hồi đất) đến ngày 11/8/2014 (ngày ban hành quyết định chi trả bồi thường), cụ thể là 11.700.000 đồng (342.000 đồng x 2%/năm x 22 tháng).

Người" bị" kiện" Ủy" ban" nhân" dân" Quận" A," Chủ" tịch" Ủy" ban" nhân" dân"

Quận"A"có"văn"bản"trình"bày:""

Ủy ban nhân dân Quận A, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A xác nhận

ban hành các Quyết định số 10325/QĐ-UBND-TTr ngày 20/8/2012, Quyết định 3496, Quyết định số 5157 với nội dung như bà T đã trình bày.

Đây là dự án xây dựng trường tiểu học Nguyễn Văn R, phường B Quận

A do Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình Quận A làm chủ đầu tư . Dự án được Ủy ban nhân dân Quận A phê duyệt Phương án bồi thường số 180/PA-HĐBT ngày 27/6/2014 ( sau đây gọi là Phương án 180) theo Quyết định 2801/QĐ-UBND 27/06/2014.

Về nguồn gốc đất thu hồi: Căn cứ Giấy xác nhận hồ sơ pháp lý nhà, đất

số 211/UBND-XN ngày 06/7/2012 của Ủy ban nhân dân phường B đối với phần đất của bà Trà:

“Tổng"diện"tích"giải"tỏa"233,8m²"-"Hiện"trạng"giải"tỏa"toàn"bộ."

Nguồn"gốc"và"quá"trình"sử"dụng"đất:"Đất"do"Tập"đoàn"7"xã"Bình"Trưng"

giao"khoán"lại"cho"ông"Nguyễn"Hồng"Hải"trước"năm"1990,"đến"năm"1995"ông" Hải" chuyển" nhượng" bằng" giấy" tay" lại" cho" bà" Nguyễn" Thị" Thanh" T," diện" tích" 392,2m²"(giấy"tay"thể"hiện"400m²,"diện"tích"chênh"lệch"giữa"giấy"tay"mua"bán"và" hiện"trạng"thực"tế"sử"dụng"do"giấy"tay"thể"hiện"không"chính"xác)."Năm"2007,"dự" án"mở"rộng"Trường"Trung"học"cơ"sở"Nguyễn"Văn"R"được"thực"hiện,"bà"T"bị"giải" tỏa"một"phần"diện"tích"158,4m²;"phần"diện"tích"còn"lại"233,8m²"bà"T"tiếp"tục"sử" dụng"cho"đến"nay"chưa"được"cấp"giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất."

Theo"tài"liệu"02/CT,"vị"trí"giải"tỏa"thuộc"một"phần"thửa"đất"số"314,"tờ"

bản"đồ"số"10,"diện"tích"233,8m²,"loại"đất:"Lúa."

Kê" khai" theo" Quyết" định" 3376" do" bà" Nguyễn" Thị" Thanh" T" đăng" ký,"

diện"tích"400m²,"mục"đích"sử"dụng:"để"ở,"phần"diện"tích"chênh"lệch"giữa"kê"khai"

so"với"thực"tế"sử"dụng"do"bà"T"kê"khai"không"chính"xác."

Theo"tài"liệu"bản"đồ"địa"chính"đo"đạc"năm"2004,"vị"trí"giải"tỏa"thuộc:"

một"phần"thửa"số"33,"tờ"bản"đồ"số"2,"diện"tích"233,8m²,"loại"đất:"T.V."

Hiện"không"có"tranh"chấp,"không"bị"xử"phạt"vi"phạm"hành"chính."

Hiện"trạng"giải"tỏa:"Đất"vườn”.

Như vậy ngày 11/8/2014, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định

số 3496 về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại giải phóng mặt bằng đối với bà T là

đúng theo quy định tại điểm b, mục 4.1, khoản 4 ; mục 11.2, khoản 11 Phần B

Phương án số 180.

Ngày 11/12/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết

định số 5157 không chấp nhận khiếu nại của bà T.

Ngày 06/7/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban

hành Quyết định số 3311 có nội dung: “Công"nhận"và"giữ"nguyên"Quyết"định"số"

5157/QĐ-UBND-TTr"ngày"11/12/2014"của"Chủ"tịch"Ủy"ban"nhân"dân"Quận"A"

về"giải"quyết"đơn"khiếu"nại"của"bà"Nguyễn"Thị"Thanh"T”.

Căn cứ điểm b, mục 4.1, khoản 4 Phần B Phương án số 180; mục 11.2,

khoản 11 Phần B Phương án số 180, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết

định số 3496 và Quyết định số 5157 là đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Tòa án giữ nguyên Quyết định số 3496, Quyết định số 5157.

Người"bị"kiện"Chủ"tịch"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"có"văn"

bản"trình"bày:"

Theo quy định tại điểm 4.1.b khoản 4.1 mục I và khoản I mục IV, phần

B Phương án số 180: “Đất"nông"nghiệp"có"vị"trí"không"mặt"tiền"đường"Nguyễn"

Duy"T"thì"giá"đất"để"tính"bồi"thường,"hỗ"trợ"là:"342.000"đồng/m²”và theo bản đồ

hiện trạng vị trí xác định vị trí – diện tích lập ngày 06/7/2012 để phục vụ công

tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thì phần diện tích của bà T là 233,8m2. Do

đó, việc bà T yêu cầu bồi thường 15.000.000đồng/m2 cho phần diện tích

244,7m2 (thiếu 10,9m2) dựa vào giấy tay mua bán là không có cơ sở.

Theo quy định tại khoản 1 mục IV phần B Phương án số 180, phần đất

của bà T sử dụng là đất nông nghiệp (mục đích sử dụng là đất vườn và đất lúa có

vị trí không mặt tiền đường) nên hộ bà T không đủ điều kiện giải quyết bố trí tái

định cư. Do đó, việc bà T yêu cầu được cấp 01 nền đất tái định cư là không có

cơ sở.

Như vậy, Quyết định số 3311 về việc công nhận và giữ nguyên Quyết

định số 5157 là đúng quy định. Đề nghị Tòa án giữ nguyên Quyết định số 3311.

Tại"phiên"tòa"sơ"thẩm,

Người" đại" diện" theo" ủy" quyền" của"người"khởi"kiện"do"bà"Nguyễn"Thị"

Tuyết"Giang"trình"bày:""

- Bà rút yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng với lãi suất tiết kiệm của

ngân hàng do Ủy ban nhân dân Quận A thực hiện việc bồi thường chậm, số tiền là 11.700.000 đồng .

- Bà xác nhận từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hải

năm 1995, trên đất không có nhà, diện tích đất chuyển nhượng chưa có bất kỳ giấy tờ xác định pháp lý nào, mục đích sử dụng đất là đất nông nghiệp. Năm 1999, bà T có ý định xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng chưa thực hiện.

- Bà đề nghị Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận A và Ủy ban

nhân dân Quận A cần làm hết trách nhiệm để đảm bảo quyền lợi của bà T, cụ thể làm văn bản kiến nghị với Hội đồng bồi thường Thành phố riêng đối với trường hợp của bà T như một trường hợp Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp cũng có tờ trình riêng cho Hội đồng bồi thường Thành phố mà bà được biết là Hội đồng bồi thường Thành phố đã chấp nhận. Bà T biết việc yêu cầu bồi thường 40% đơn giá đất ở theo quy định của Phương án bồi thường là không đúng. Tuy nhiên nếu Ủy ban nhân dân Quận A vận dụng theo điểm b phần 1 mục I của Báo cáo số 119/BC-UBND ngày 28/6/2013 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 16/2012/HĐND của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa VIII để thực hiện việc bồi thường cho bà T thì sẽ hợp lý hơn.

Bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về hủy Quyết định số 3496, Quyết

định số 5157 và Quyết định số 3311.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện"Ủy"ban"nhân"

dân"Quận"A"và"Chủ"tịch"Ủy"ban"nhân"dân"Quận"A"trình"bày:

Việc bà T cho rằng diện tích bồi thường chênh lệch là không đúng, bởi

bà T nhận chuyển nhượng đất bằng giấy tay và không có chứng cứ gì chứng minh phần diện tích nhận chuyển nhượng là bao nhiêu. Theo Bản đồ hiện trạng - vị trí của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất năm 2012, bà T có ký tên xác nhận diện tích bị thu hồi là 233,8m2, bà T chỉ ranh và không có khiếu nại gì. Bà T chỉ khiếu nại về giá bồi thường và không khiếu nại về phần diện tích đất thu hồi. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí của Công ty TNHH dịch vụ - thương mại đo đạc Tạ Phú ngày 30/10/2018 thể hiện diện tích còn lại của bà T là 233,8m2. Phần 10,9m2 chênh lệch này bà Lê Thị Tuyết đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo hồ sơ gốc số 3233/2003 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 08/12/2003.

Khi thực hiện thu hồi đất giai đoạn 1 đối với phần đất của bà T, mặc dù

bà T không thuộc diện tái định cư, tuy nhiên Ủy ban nhân dân Quận A đã giải quyết cho bà T được mua suất tái định cư.

Ủy ban nhân dân Quận A đã thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho bà T đúng

theo quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà T, giữ nguyên Quyết định số 3496, Quyết định số 5157.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi" ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện"Chủ"tịch"Ủy"

ban"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"trình"bày:"

Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà T, giữ nguyên Quyết định

số 3496, Quyết định số 5157 và Quyết định số 3311.

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"phát"biểu"ý"kiến:

Về"thủ"tục"tố"tụng:"Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán

và Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật,

người tham gia tố tụng đúng thành phần và chấp hành quy định của Luật Tố

tụng hành chính.

Về"nội"dung:""

- Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng với lãi suất gửi tiết kiệm của

ngân hàng do bồi thường chậm: Tại phiên tòa, bà G rút yêu cầu này nên đề nghị

Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này theo quy định tại khoản

2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

- Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà T. Giữ nguyên Quyết định

số 3496, Quyết định số 5157 và Quyết định số 3311.

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa,

kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, các quy định

pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hình thức:

1.1."Về"đối"tượng"khởi"kiện,"thời"hiệu"khởi"kiện"và"thẩm"quyền"giải"quyết"

vụ"án"hành"chính:"

Ngày 10/8/2015, bà T nộp Đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận A yêu

cầu hủy Quyết định số 3496. Ngày 27/8/2015, Tòa án nhân dân Quận A thụ lý đơn

khởi kiện của bà T là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm c khoản

1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2011.

Ngày 20/9/2015, bà T nộp Đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy Quyết

định số 5157 và Quyết định số 3311. Ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân Quận A

ban hành Quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 13/2015/CVA-HC cho Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 19/11/2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý đơn

khởi kiện của bà T là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm c

khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2011.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 104 Luật Tố tụng hành chính năm

2011, điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì yêu cầu

khởi kiện của bà T còn trong thời hiệu khởi kiện.

1.2. Về"thủ"tục"tố"tụng"xét"xử"vắng"mặt"người"bị"kiện:"Tại phiên tòa đại

diện người bị kiện vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. căn cứ khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

![2].!Về!nội!dung:!!!!

2.1."Về"thẩm"quyền,"trình"tự,"thủ"tục"ban"hành"các"quyết"định"hành"chính"bị"kiện:" "

Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 3496 là đúng thẩm

quyền, trình tự theo quy định tại Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 5157 là đúng

thẩm quyền, trình tự theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định

số 3311 về việc giải quyết khiếu nại là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật Khiếu nại năm 2011.

2.2."Về"nội"dung"Quyết" định" số" 3496," Quyết" định" số" 5157" và" Quyết"

định"số"3311:"

2.2.1. Xét nội dung Quyết định số 3496:

- Đối với diện tích đất bồi thường:

Tại phiên tòa, đại diện người khởi kiện xác nhận bà T có nhận chuyển

nhượng từ ông Nguyễn Hồng Hải phần diện tích đất 400m2 bằng giấy tay, đại diện người khởi kiện cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh diện tích đo đạc cụ thể phần đất trên thuộc thửa đất nào, không chứng minh ranh đất, diện tích chính xác được cơ quan nhà nước công nhận.

Theo Bản đồ hiện trạng vị trí của Công ty đo đạc địa chính & công trình

năm 2006 phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trường THCS Nguyễn Văn R thể hiện, diện tích thu hồi trước đây của bà T là 158,4m2, thuộc thửa (BK) cũ 33, thửa (BK) phân chiết 33-1. Bản đồ hiện trạng vị trí này thể hiện phần diện tích còn lại là 244,7m2. Tuy nhiên bản đồ thể hiện phần còn lại 244,7m2của thửa (BK) phân chiết 33-2 do bà T hướng dẫn ranh đo đạc khi thực hiện thu hối đất đợt 1. Bản đồ này hoàn toàn không phải là chứng cứ xác định diện tích đất còn lại thuộc quyền sử dụng của bà T là 244,7m2. Hơn nữa, Bản đồ hiện trạng này chỉ phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng giai đoạn 1. Việc kiểm tra nội nghiệp phục vụ cho việc đền bù giai đoạn 1.

Theo Bản đồ hiện trạng - vị trí của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng

đất năm 2012, bà T có ký tên xác nhận diện tích bị thu hồi là 233,8m2, bà T đồng ý với bản đồ này và không có khiếu nại gì. Bà T chỉ khiếu nại về phần bồi thường và không khiếu nại về phần diện tích đất thu hồi.

Căn cứ điểm đ khoản 1.1 điều 1 Chương I Phần B Phương án số 180:

“Diện"tích"đất"được"bồi"thường"là"diện"tích"được"xác"định"trên"thực"địa,"thực"tế" đo"đạc"diện"tích"thu"hồi"của"từng"người"sử"dụng"đất”."

Như vậy, việc bà T yêu cầu bồi thường diện tích đất 244,7m2"là"không có

cơ sở chấp nhận.

- Đối với đơn giá bồi thường, hỗ trợ:

Căn cứ điểm b khoản 4.1 Phần B Phương án số 180: “Đất"nông"nghiệp"

có"vị"trí"không"mặt"tiền"đường"Nguyễn"Duy"T"thì"giá"đất"để"tính"bồi"thường,"hỗ"

trợ"là:"342.000"đồng/m².”

Căn cứ mục 11.2 khoản 11 Phần B Phương án số 180: “11.2." Hộ" gia"

đình,"cá"nhân"khi"bị"thu"hồi"đất"nông"nghiệp"trong"địa"giới"hành"chính"phường;"

thửa"đất"nông"nghiệp"tiếp"giáp"với"ranh"giới"phường,"ranh"giới"khu"dân"cư"thì"

ngoài"việc"được"bồi"thường"theo"giá"đất"nông"nghiệp"còn"được"hỗ"trợ"bằng"50%"

giá"đất"ở"trung"bình"của"khu"vực"có"đất"thu"hồi"theo"quy"định"trong"Bảng"giá"

đất"do"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"quy"định"và"công"bố"hàng"năm."Diện"tích"

được"hỗ"trợ"là"diện"tích"đang"sử"dụng"thực"tế"nhưng"không"quá"năm"(05)"lần"

hạn"mức"giao"đất"ở"theo"quy"định"(05"lần"x"200m²"="1.000m²)."

"Đơn"giá"đất"ở"trung"bình"khu"vực"có"đất"thu"hồi"áp"dụng"theo"Văn"bản"

số"2954/UBND-ĐTMT"ngày"25"tháng"6"năm"2014"của"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"

phố"là"2.051.000"đồng/m2.”

Như vậy việc Ủy ban nhân dân Quận A bồi thường, hỗ trợ cho bà T

319.721.500 đồng (bao gồm: Đất nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất (không mặt tiền đường): 233,8m² x 342.000 đồng/m² x

100% = 79.959.600 đồng; Hỗ trợ đất nông nghiệp trong địa giới hành chính

phường: 233,8m² x 2.051.000 đồng/m² x 50% = 239.761.900 đồng), là đúng

quy định Phương án số 180.

Bà T cho rằng cần áp dụng Điều 43 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày

25/5/2007 của Chính phủ và khoản 1 Điều 22 Quyết định 35 để bồi thường 40%

giá đất ở của thửa đất đó là không có căn cứ vì: Phần đất bị thu hồi của bà T là đất

nông nghiệp nhưng trong cùng thửa đất không có nhà ở nên bà T không đủ điều

kiện áp dụng Điều 43 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và khoản 1

Điều 22 Quyết định 35/2010/QĐ-UBND ngày 28/5/2010 của Ủy ban nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh khi thực hiện việc bồi thường.

- Về việc tái định cư: Căn cứ Giấy xác nhận hồ sơ pháp lý nhà, đất số

211/UBND-XN ngày 06/7/2012 của Ủy ban nhân dân phường B, Quận A đối

với phần đất bị thu hồi của bà T, cũng như sự thừa nhận của đại diện bà T tại

phiên tòa xác định phần đất của bà T sử dụng là đất nông nghiệp, không có nhà.

Căn cứ khoản 1 mục IV phần B Phương án số 180: “Hộ"gia"đình,"cá"nhân"khi"

Nhà"nước"thu"hồi"đất"ở"(đủ"điều"kiện"bồi"thường"quy"định"tại"khoản"2"mục"I"nêu"

trên"và"hỗ"trợ"đất"ở"quy"định"tại"khoản"8"mục"1"nêu"trên)"thì"được"bố"trí"tái"định"

cư”"thì hộ bà T không đủ điều kiện giải quyết bố trí tái định cư.

Do đó, bà T yêu cầu hỗ trợ bằng 40% đơn giá đất ở và cấp 01 nền đất tái

định cư là không có cơ sở.

Như vậy, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 3496 là

đúng quy định pháp luật và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà T.

Trên cơ sở ban hành Quyết định số 3496, Chủ tịch Ủy ban nhân

dân Quận A ban hành Quyết định số 5157 giải quyết khiếu nại của bà T là đúng quy định pháp luật.

Trên cơ sở ban hành Quyết định số 5157, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 3311 là đúng quy định pháp luật.

2.1.2."Xét"yêu"cầu"bồi"thường"thiệt"hại"doUBND"Quận"A"thực"hiện"bồi"

thường"chậm,"cụ"thể"là"342.000"đồng"x"2%/năm"x"22"tháng"="11.700.000"đồng:"

Tại phiên tòa bà Giang là đại diện theo ủy quyền của bà T rút phần yêu

cầu bồi thường thiệt hại bằng này. Xét thấy, việc rút yêu cầu bồi thường thiệt hại do bồi thường chậm của bà T là tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng với lãi suất gửi tiết kiệm của ngân hàng do bồi thường chậm của bà Nguyễn Thị Thanh T.

2.1.3. Việc bà T cho rằng lẽ ra Ủy ban nhân dân Quận A nên thực hiện

theo điểm b phần 1 mục I của Báo cáo số 119/BC-UBND ngày 28/6/2013 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 16/2012/HĐND của Hội đồng nhân dân Thành phố khóa VIII, Hội đồng xét xử xét thấy, Nghị quyết số 16/2012/HĐND là áp dụng với các trường hợp khi xây dựng phương án bồi thường và hỗ trợ tái định cư là trên cơ sở Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. Tuy nhiên dự án này tại thời điểm phê duyệt Phương án 180 ngày 27/6/2014 thì Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ có hiệu lực. Như vậy trường hợp bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất của bà T không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 16/2012/HĐND của Hội đồng nhân dân Thành phố khóa VIII.

Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện

là có căn cứ nên được chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh về nội dung vụ kiện là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những căn cứ trên, xét thấy Quyết định số 3496, Quyết định số

5157 và Quyết định số 3311 là đúng quy định pháp luật. Do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T.

[3]. Về án phí hành chính sơ thẩm: Bà T sinh năm 1954, do đó căn cứ:

Điều 2 Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hành chính sơ thẩm cho bà T.

Vì"các"lẽ"trên,!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

!!QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 30 của Luật Tố tụng

hành chính năm 2011;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính

năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 48 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án.

Tuyên"xử:"

1/ Đình chỉ xét xử đối với phần bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Ủy ban

nhân dân Quận A bồi thường thiệt hại do chậm thực thực hiện việc bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư.

2/ Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về hủy Quyết

định số 3496/QĐ-UBND ngày 11/8/2014 của Ủy ban nhân dân Quận A,

Quyết định số 5157/QĐ-UBND-TTr ngày 11/12/2014 của Chủ tịch Ủy ban

nhân dân Quận A và Quyết định số 3311/QĐ-UBND ngày 06/7/2015 của

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Án phí hành chính sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trà cho bà T 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp

theo Biên lai thu số AC/2012/03568 ngày 27/8/2015 của Cục Thi hành án dân sự

Thành phố Hồ Chí Minh

4/ Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo

bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền

kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án

được niêm yết theo luật định.

Thành!viên!

Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!

Hội!đồng!xét!xử!

!

!

!

!

! Nguyễn!Văn!Long!!!!!!!Nguyễn!Thành!Châu!

!!!!!!!!!!!!!!!!!Đào!Quốc!Thịnh!

!

Cỡ chữ