vanban.org

Bản án 287/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 15/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Quàng Văn Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 29/7/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TH PHỐ HÀ NỘI
----------------
Bản án số: 287/2017/HSST
Ngày: 15/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bắc

Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Nam – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 15/11/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 275/2017/HSST ngày 12/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 308/2017/QĐXXST-HS ngày 01/11/2017 đối với bị cáo:

1. QUÀNG VĂN TH - sinh năm: 1989 ; HKTT: Bản TC, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở trọ: Tổ 14, phường BĐ, quận Long Biên, TP Hà Nội. Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Quàng Văn Khỏ (C) và bà: Quàng Thị Huôi. Gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là thứ 5. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 434 ngày 01/8/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt ngày 29/7/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an Th phố Hà Nội. SG: 3570P1/21

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Bạc Cầm H, sinh năm 1998 HKTT: Bản TC, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt)

- Anh Bạc Cầm Đ, sinh năm 1989 HKTT: Bản TC, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22h10 ngày 29/7/2017 tại khu vực đường Ái Mộ, phường BĐ, quận Long Biên, Hà Nội, tổ công tác Công an phường Đức Giang trong khi làm nhiệm vụ đã tiến hành kiểm tra 03 đối tượng chở nhau trên 01 xe máy BKS 29Z1-09957. Quá trình kiểm tra hành chính, 03 đối tượng trên khai là: Quàng Văn Th, Bạc Cầm H, Bạc Cầm Đ. Đều có HKTT: Bản TC, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Kết quả kiểm tra phát hiện đối tượng Quàng Văn Th tàng trữ 01 gói giấy bạc mầu vàng bên trong có túy nilon chứa chất bột mầu trắng Th để trong túi quần đang mặc. Tại chỗ Th khai nhận đó là túi nilon ma túy heroin Th mua để sử dụng. Tổ công tác đã đưa các đối tượng về trụ sở cơ quan công an làm rõ. Tang vật tạm giữ gồm:

- 01 gói giấy bạc mầu vàng bên trong có túi nilon chứa chất bột mầu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY – G101 màu đen và 50.000 đồng của Quàng Văn Th.

- 01 chiếu xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius BKS 27Z1-09957 và 01 đăng ký xe máy mang tên Bạc Cầm Đ

- 01 điện thoại Samsung Galaxy I7 của Bạc Cầm H

Bản kết luận giám định số 5054 ngày 30/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột mầu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy Heroin, trọng lượng 0,172 gam.

Tại cơ quan điều tra Quàng Văn Th khai nhận:

Khoảng 21h ngày 29/7/2017, Quàng Văn Th cùng Bạc Cầm H rủ nhau đi bộ từ lán xây dựng ở tổ 14, phường BĐ ra khu vực hồ BĐ ngồi chơi. Tại đây, Th nảy sinh ý định mua ma túy sử dụng cho bản thân. Th lấy điện thoại di động của Th để gọi cho người bán ma túy nH do điện thoại của Th hết tiền nên Th mượn điện thoại di động của H gọi cho 01 người phụ nữ mà lần trước Th đã mua ma túy của chị ta để hỏi mua 01 gói ma túy Heroin với giá 150.000 đồng và hẹn gặp nhau ở chỗ cũ là nơi gốc cây gần đó. Một lúc sau Th đi ra điểm hẹn và thấy có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, Th nhặt lên kiểm tra thì thấy bên trong vỏ bao thuốc đó có 01 gói giấy bạc mầu vàng, bên trong là 01 túi nilon chứa chất bột mầu trắng. Biết đó là gói ma túy heroin mình đã mua nên Th lấy 150.000 đồng trong túi quần ra để vào 01 chiếc lọ ở gốc cây này rồi đi ra chô H. Trên đường đi, Th lấy gói ma túy mua được cất vào túi quần phía trước bên phải rồi vứt bỏ chiếc vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Sau đó Th cùng H đi bộ về lán xây dựng. Trên đường về thì gặp anh Bạc Cầm Đ là chủ xây dựng của Th và H. Anh Đ rủ Th và H đi xem gạch ốp lát cho công trình xây dựng. Cả hai đồng ý. Khi anh Đ dùng xe máy YAMAHA BKS 27Z1-09957 của mình chở Th và H đi đến khu vực đường Ái Mộ, phường BĐ, Long Biên, Hà Nội thì bị Công an phường Đức Giang dừng xe để kiểm tra. Th tự giác giao nộp gói ma túy và khai vừa mua để sử dụng. H và Đ không biết Th có ma túy trong người.

Lời khai của Th phù hợp với lời khai của H và Đ, phù hợp lời khai nhân chứng có mặt tại hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập. Xét nghiệm nước tiểu của Th dương tính với chất ma túy.

Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Quàng Văn Th đã đủ yếu tố cấu Th tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 41; Điều 33 của BLHS. Điều 76 BLTTHS. Áp dụng Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH41 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt đề nghị xử phạt Quàng Văn Th từ 20 tháng đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,172 gam heroin. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY – G101 màu đen của bị cáo. Trả lại bị cáp 50.000 đồng không sử dụng vào việc phạm tội nH cho tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại anh Bạc Cầm H 01 điện thoại Samsung Galaxi J7 vì khi Th mượn điện thoại anh H không biết để gọi mua ma túy.

Về dân sự: Không

Nói lời sau cùng: Bị cáo biết là sai, vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Xét lời khai nhận của bị cáo Th tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: 22h10 ngày 29/7/2017 tại khu vực đường Ái Mộ, phường BĐ, Long Biên, Hà Nội, Quàng Văn Th đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,172 gam heroin mục đích để sử dụng nH chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác công an phường Đức Giang, quận Long Biên bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Quàng Văn Th có đầy đủ dấu hiệu cấu Th tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS.

Về hình phạt bổ sung như phạt tiền: xét thấy bị cáo nghiện chất ma túy. Không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,172 gam heroin. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY – G101 màu đen của bị cáo do việc không sử dụng được điện thoại vào việc phạm tội nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Trả lại bị cáo 50.000 đồng không sử dụng vào việc phạm tội nH cho tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại anh Bạc Cầm H 01 điện thoại Samsung Galaxi J7 vì khi Th mượn điện thoại anh H không biết để gọi mua ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.

Đối với anh Bạc Cầm H và anh Bạc Cầm Đ, quá trình điều tra xác định anh H và anh Đ không biết việc Th có hành vi mua và tàng trữ trái phép gói ma túy trong người. Do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên không đặt vấn đề xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius VKS 27Z1-09957 tạm giữ của anh Bạc Cầm Đ cùng đăng ký xe, quá trình điều tra xác định: xe máy trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Đ. Cơ quan điều tra – Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho anh Đ là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ đã bán trái phép chất ma túy cho Th, do Th khai không biết tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra chưa làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46, điều 33 Bộ luật hình sự 1999. Áp dụng Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH41 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

-Xử phạt: Quàng Văn Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 29/7/2017.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy 0,172 gam Heroin có tại kho tang vật Công an quận Long Biên theo phiếu nhập vật chứng ngày 15/9/2017.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY – G101 màu đen của bị cáo. Trả lại anh Bạc Cầm H 01 điện thoại Samsung Galaxi J7.

(Số tang vật trên có tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2017)

- Trả lại bị cáo 50.000 đồng nH cho tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/10/2017.

3. Về dân sự: Không

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo Th phải nộp 200.000đ án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 bộ luật Tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ