vanban.org

Bản án 286

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/09/2017 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn N - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA N NH N N N HÒA

H

H N H V T N M T NH Đ N TH

Đ c p – T o – H nh h c Bản án số: 286/2017/HSPT Ngày: 27/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚ

N HÒ

H

H N H V T N M

TÒ N NH N N T NH Đ N THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bảy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 250/2017/HSPT ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2017/HSST ngày 03 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân thị xã H.

Bị cáo có kháng cáo:

N

N V N N

- Sinh năm 1992;

- HKTT và chỗ ở: ấp P, xã P1, huyện A, tỉnh A1;

- Nghề nghiệp: Làm thuê;

- Trình độ học vấn: 07/12;

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: Hòa Hảo;

- Con ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1962 và con bà Trần Thị M, sinh năm 1971;

- Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1991;

- Con: 02 (đứa lớn 07 tuổi và đứa nhỏ 03 tuổi);

- Gia đình có bốn anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình;

-Tiền án, tiền sự: Không;

- Bắt tạm giam: Ngày 13/3/2017;

- Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú: Ngày 10/4/2017;

- Bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp các người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NH N TH :

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã H thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 25/01/2017, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển số 67G1-374.83 phía sau có chở cháu Phạm Phước N và anh Trần Văn H1 (N ngồi giữa) lưu thông trên tuyến đường Tỉnh lộ ĐT 842 hướng từ huyện T đi thị xã H. Khi đến địa phận ấp An L, xã A2, thị xã H, do điều khiển xe chạy với tốc độ nhanh và phía trước có xe lưu thông cùng chiều, nên N điều khiển lấn sang phần đường bên trái theo hướng xe N đang chạy và va chạm vào xe ô tô tải biển số 66C-027.95 do anh Trần Văn H2, sinh năm 1982 điều khiển theo hướng ngược chiều. Vụ va chạm làm người và xe mô tô ngã trên mặt đường, anh Trần Văn H1 tử vong tại chỗ, cháu Phạm Phước N1 bị thương nặng được người dân địa phương đưa đến Bệnh viện đa khoa Khu vực H cấp cứu, nhưng do thương tích nặng đến khoảng 10 giờ ngày 26/01/2017 thì tử vong. Riêng Nguyễn Văn N chỉ bị thương tích nhẹ.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 26/01/2017, thể hiện như sau:

- Đoạn đường tại nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường thông thoáng và được trải một lớp nhựa màu đen, không có vạch kẻ tim đường.

- Mặt đường bằng nhựa bê tông, rộng 6m20 (Sáu mét hai mươi).

- Vị trí va chạm nằm hoàn toàn bên phần đường của xe ôtô tải biển số 66C-027.95 theo hướng từ phường A3 đi xã A4, do Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển số 67G1-374.83 đi không đúng phần đường quy định gây tai nạn giao thông. Tất cả các thông số đo đạc vào lề phải theo hướng đi của xe mô tô biển số 67G1-374.83 do Nguyễn Văn N điều khiển, thể hiện như sau:

+ Vết phanh số 1A dài 6m00 (Sáu mét), rộng 0m30 (Không mét ba mươi) có đầu vết phanh cách lề 3m40 (Ba mét bốn mươi) và cuối vết phanh cách lề 3m50 (Ba mét năm mươi).

+ Vết phanh số 2 dài 4m68(Bốn mét sáu mươi tám), rộng 0m21 (Không mét hai mươi mốt) có đầu vết phanh cách lề 3m52 (Ba mét năm mươi hai) và cuối vết phanh cách lề 3m40 (Ba mét bốn mươi).

+ Nạn nhân Trần Văn H ngã trên mặt đường, đầu cách lề 3m38 (Ba mét ba mươi tám).

Tại Bản giám định pháp y số: 66/TTh-TTPY, ngày 14 tháng 3 năm 2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tỉnh Đồng Tháp kết luận đối với Trần Văn H như sau:

+ Dấu hiệu chính qua giám định: Dập não, xuất quyết não toàn bộ bán cầu trái. Vỡ nát xương sọ từ đỉnh xuống thái dương trái.

+ Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong. Và tại Bản giám định pháp y số: 67/TTh-TTPY, ngày 14 tháng 3 năm 2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tỉnh Đồng Tháp kết luận đối với Phạm Phước N1 như sau:

+ Dấu hiệu chính qua giám định: Tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, dập não, xuất quyết não vùng đỉnh thái dương trái. Gãy 1/3 trên xương cánh tay trái.

+ Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2017/HSST ngày 03/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã H đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án và được trừ đi những ngày tạm giam trước đó (từ ngày 13/3/2017 đến ngày 10/4/2017).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08 tháng 8 năm 2017, bị cáo Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp, đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn N, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

T TH :

Bị cáo Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển số 67G1-374.83 phía sau có chở cháu Phạm Phước N1 và anh Trần Văn H ngồi sau. Nhưng khi điều khiển xe lưu thông trên tuyến đường Tỉnh lộ ĐT 842 hướng từ huyện T đi thị xã H vào ban đêm. Bị cáo điều khiển xe chạy với tốc độ rất cao và phía trước có xe lưu thông cùng chiều. Bị cáo không quan sát phía ngược chiều có xe không mới được qua mặt xe cùng chiều. Trong khi xe của bị cáo đang chở 2 người phía sau, bị cáo lại chủ quan và không quan sát phía trước vẫn cho xe qua mặt vào đêm tối. Do đó, khi bị cáo điều khiển xe qua mặt xe cùng chiều thì bị cáo phải tăng tốc độ cao, nên khi xe qua trái va chạm vào xe ô tô tải biển số 66C-027.95 do anh Trần Văn H1 điều khiển theo hướng ngược chiều lại. Hậu quả xảy ra làm cho em Trần Văn H tử vong tại chỗ, còn Phạm Phước N1 tử vong sau đó.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận biết được người điều khiển phương tiện giao thông phải chấp hành đúng theo luật giao thông. Bị cáo điều khiển phương tiện giao thông vào đêm tối lại chạy tốc độ cao, vượt xe không đúng qui định. Từ việc không chấp hành luật giao thông của bị cáo đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho 2 người bị hại tử vong, người bị hại mà bị cáo gây ra cho họ tử vong khi họ còn trong độ tuổi trẻ em. Trong vụ tai nạn này lỗi gây ra tai nạn hoàn toàn do chính bị cáo gây ra. Mặc dù tai nạn giao thông xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường dân sự xong cho đại diện hợp pháp các người bị hại và được họ bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nhưng hành vi của bị cáo đã gây ra cái chết thương tâm cho người bị hại và còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó cần có thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

Án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự, là có căn cứ. Sau khi án sơ thẩm xử bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo và tại phiên tòa xin được hưởng án treo, với lý do gia đình bị cáo có công Cách Mạng, đại diện hợp pháp các người bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận. Vì án sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo và áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự để xử bị cáo dưới khung hình phạt, nên không có căn cứ để cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Tỉnh đề nghị, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt là có căn cứ để chấp nhận.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Nhưng do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

Q ẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt, nhưng trừ đi những ngày tạm giam từ ngày 13/3/2017 đến ngày 10/4/2017.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N được miễn nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TTM. H Đ N

T

H TH M N nh n:

t

Cỡ chữ