- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? * Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -Bản án số: 286/2024/HNGĐ-ST -Ngày: 18/7/2024 - V/v: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoa Kiều
2. Ông Trương Hoàng Hoa
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Sỹ Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C không tham gia phiên toà.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 168/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc "Xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST–DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mộng N, sinh năm 1987.
2. Bị đơn: Nguyễn Minh T, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: ấp Thạnh T, xã An Thạnh T, huyện C, tỉnh T
(Chị N và anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn Nguyễn Thị Mộng N trình bày: Năm 2006, chị và anh T tự nguyện cưới nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã An Thạnh T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 28/02/2006. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc cho đến thời gian khoảng đầu năm 2024 giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân anh T không quan tâm gia đình, vợ chồng thường hay cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.
Vợ chồng chị có con chung tên Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 15/3/2006, đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Vợ chồng chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, chị N có đơn xin vắng mặt.
* Bị đơn Nguyễn Minh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiê tòa, văn bản trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ để dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: chị N và anh T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã An Thạnh T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 28/02/2006 nên quan hệ hôn nhân giữa anh, chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn thường trú tại huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nay chị N xin ly hôn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "xin ly hôn", vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C và được xem xét giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử nhận thấy: chị N xin ly hôn với anh T vì từ đầu năm 2024 cho đến nay giữa vợ chồng sống không hạnh phúc, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường cãi nhau và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Anh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Xét thấy, mâu thuẫn ban đầu giữa vợ chồng không lớn nhưng anh, chị không tự khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và không có giải pháp nào hàn gắn tình cảm nên chị N có đơn xin ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải và tạo điều kiện về thời gian để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng giữa anh, chị không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh T vắng mặt trong s uốt quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến về việc chị N xin ly hôn chứng tỏ anh T cũng không còn thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N và cuộc sống hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: chị N và anh T có con chung tên Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 15/3/2006, đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T vắng mặt; chị N trình bày vợ chồng chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết. T hợp sau này các bên có tranh chấp sẽ giải quyết ở vụ án khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ, các đương sự được quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh T xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
* Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng N.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mộng N được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Mộng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007499 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Như vậy, chị N đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ, các đương sự được quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh T xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã An Thạnh T; - Đương sự; - Lư u hồ sơ . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Tài |