vanban.org

Bản án 286/2023/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 21/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2023/HSPT
Ngày: 21 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Long

Các Thẩm phán:

ông Đinh Phước Hòa

ông Trương Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân

cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng

Nam. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc

thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 246/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 5

năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Giết người” . Do có kháng cáo

của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 11/4/2023

của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

2409/2023/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2004, tại huyện T, tỉnh Quảng

Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn D, xã T, huyện T, tỉnh

Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới

tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T, sinh năm

1965 và bà Trà Thị Minh T1 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự:

không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ vào ngày 27/07/2022, chuyển sang tạm giam

ngày 05/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng

Nam; có mặt.

- Bị hại: Ông Phạm Đức S, sinh năm 1981, trú tại: thôn D, xã T, huyện T,

tỉnh Quảng Nam (Đã chết);

Người đại diện hợp pháp cho bị hại S: bà Đậu Thị V, sinh năm 1981; trú

tại: thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam;

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn Q: ông Nguyễn Quốc

H, sinh năm 1999; trú tại: thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam (Là anh ruột của bị cáo).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q: Luật sư Trương Ngọc T2 –

Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 27/7/2022, Nguyễn Văn Q, ông Phạm Đức S cùng một số

người trong thôn đến nhà anh Trần Văn Đ để tham dự tiệc tân gia. Tại đây, Q uống khoảng 04 đến 05 lon bia, lúc này ông S nhìn thấy Q uống nhiều bia nên khuyên Q đi về để chiều phụ gia đình làm nhà, vì nhà Q đang sửa chữa lại nhưng Q nói lại với ông S “Con nể anh Đ nên mới ngồi lại” rồi hai người xảy ra lời qua tiếng lại, khoảng 10 phút sau thì Q đi về. Khoảng 14 giờ cùng ngày, vì cho rằng lúc ở tại nhà anh Đ, ông S vừa trợn mắt, vừa bảo Q về nên Q tiếp tục đi qua nhà ông S để nói chuyện. Tại đây, Q gặp ông S và nói “Cậu lớn rồi mà nói rứa là sai” thì ông S trả lời: “Tại sao ở dưới nớ mi lườm tao (tức dưới nhà anh Đ)”, sau đó, Q nói lại: “Cậu trợn con chớ con không lườm cậu”, rồi ông S yêu cầu Q đi ra khỏi nhà. Q đi về nhà mình rồi đến đống gạch dùng tay đấm liên tiếp nhiều cái vào đống gạch khiến cho mu bàn tay bị trầy xước, chảy máu. Sau đó, Q đi vào nhà lấy 01 con dao (loại dao bầu dài khoảng 40 cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ) để trên bàn rồi đi qua nhà ông S.

Khi đến nhà ông S thì Q nhìn thấy ông S và gia đình ông S đang ngồi ở

bàn trà, gần giếng nước trước sân. Mọi người nhìn thấy Q cầm con dao đi qua nên hoảng sợ bỏ chạy, chỉ còn ông S và cháu Phạm Thị Phương L (con ruột của ông S) ở lại. Ông S đi ra đứng đối diện với Q thì Q dùng tay đẩy vào ngực ông S, cháu L thấy vậy nên chạy vào can ngăn; Q đẩy cháu L ra đồng thời ôm vật ông Sáu n, nằm ngửa dưới sân nhà. Q ngồi đè lên người, cầm dao quơ ngang trúng xược vào mặt của ông S. Lúc này, ông S gượng dậy thì Q dùng tay đè vào cổ ông S, tiếp tục dùng dao đâm 01 nhát vào vùng đùi phải; ông S cố gượng mình thì Q tiếp tục dùng tay đè, chuyển con dao sang tay phải, đâm 01 nhát vào vùng hông bên trái ông S rồi rút dao ra. Đâm xong, Quốc vứt bỏ con dao tại hiện trường rồi đi về nhà. Sau đó điều khiển xe mô tô đến Công an xã T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội; trên đường đi Q gặp và nói với chị Nguyễn Thị Ý N biết sự việc trên và nói là đi đầu thú. Đồng thời, Q gọi điện cho hai người anh ruột là anh Nguyễn Quốc D và anh Nguyễn Quốc H (là anh ruột của Q) về lo

chăm sóc cho cha để Q đi đầu thú vì Q đã dùng dao đâm ông S (cha của Q bị

thần kinh, tai biến nằm một chỗ).

Riêng về phần ông S, do vết thương sâu nên ông S đã chết tại chỗ.

* Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Văn Q được lập

vào 17 giờ 40 phút ngày 27/7/2022 ghi nhận: mặt ngoài các ngón tay út, nhẫn,

giữa, trỏ phải có nhiều vết xây xát da gây chảy máu.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 161.22/KL-KTHS ngày

03/8/2022 của Phòng K Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: ông Phạm Đức S

chết do choáng mất máu cấp, suy hô hấp - tuần hoàn không hồi phục hậu quả

của vết thương thấu ngực - bụng.

- Tại Kết luận giám định số 1643 ngày 25/11/2022 của Phân viện Khoa

học Hình sự tại TP Đà Nẵng, kết luận trên con dao mà Cơ quan điều tra tạm giữ

(được niêm phong, dán kín có hình dấu của Công an xã T) có máu của ông

Phạm Đức S.

* Do nghi ngờ về sức khỏe tâm thần nên ngày 26/10/2022 Cơ quan CSĐT

Công an tỉnh Quảng Nam đã ra Quyết định trưng cầu giám định về pháp y tâm

thần đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 2011/KLGĐ ngày

29/11/2022 của Trung tâm P, kết luận về sức khỏe tâm thần của bị cáo Nguyễn

Văn Q như sau:

- Trước thời điểm gây án: Về y học: rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0);

Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: hạn chế khả năng

nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

- Tại thời điểm gây án: Về y học: rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0);

Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: hạn chế khả năng

nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

- Thời điểm hiện tại: Về y học: rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0);

Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: hạn chế khả năng

nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Qua quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều

tra đã thu thập được.

[2] Tại Bản án h nh sự sơ thẩm số2 2023 H T ngày 11 4 2023 của Tòa

án nhân dân t nh uảng Nam đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Giết người” theo

điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về h nh phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, q khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/7/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí

và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[3] Kháng cáo:

Ngày 25-4-2023, bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn Q giữ nguyên kháng cáo, trình bày lý do kháng cáo là

bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng mức hình phạt quá cao.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tại giai

đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung kháng cáo: do hình phạt của bản án sơ thẩm nặng, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về hành vi phạm tội:

Vào trưa ngày 27/7/2022, tại tiệc tân gia của gia đình anh Trần Văn Đ, bị

hại Phạm Đức S khuyên bảo bị cáo Nguyễn Văn Q không nên uống nhiều bia để giữ sức khỏe phụ giúp gia đình, bị cáo không nghe lời mà lại còn cãi nhau với bị hại S, nên ông S đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, do còn bực tức việc bị hại S vừa trợn mắt, vừa khuyên bảo Q về không được uống bia nữa, nên Q đi qua nhà ông S để nói chuyện. Tại đây, Q gặp ông S và hai bên cãi vã nhau, ông S yêu cầu Q đi ra khỏi nhà. Q đi về nhà mình rồi cầm theo 01 con dao (loại dao bầu, trong đó lưỡi dao bằng kim loại dài 25,8 cm) đến nhà bị hại S, giữa bị cáo và bị hại xảy ra giằng co, bị cáo Quốc ôm vật bị hại ngã xuống đất rồi ngồi lên người bị hại S dùng dao đâm vào vùng ngực - bụng và đùi phải, làm bị hại S tử vong tại chỗ.

Bản án sơ thẩm đã quyết định bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Giết

người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Tại thời điểm gây án, bị cáo Nguyễn Văn Q tuy bị hạn chế khả năng nhận

thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi nhưng vẫn hiểu và nhận thức được việc dùng dao đâm vào vùng ngực - bụng của bị hại nguy hiểm đến tính mạng;

song với hành vi có tính chất tính côn đồ, bị cáo đã cố ý tước đoạt mạng sống

của bị hại. Hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội.

Bị cáo Nguyễn Văn Q chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người có bệnh bị

hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi; trong quá

trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn

hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục cho

gia đình bị hại Sáu với số tiền 2.000.000đ; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó

khăn, mẹ mất sớm, cha bị bệnh tâm thần; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị

cáo đã đến cơ quan Công an để đầu thú, nên đã đã được áp dụng tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều

51 Bộ luật Hình sự.

Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn Q là người

chưa thành niên (17 tuổi 9 tháng 21 ngày) nên nhận thức pháp luật còn hạn chế

nên được áp dụng chính sách pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy

định tại Điều 98, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ để quyết định

hình phạt 16 năm tù là có phần nghiêm khắc, nhưng vẫn trong phạm vi của

khung hình phạt. Do hậu quả chết người đã xảy ra và mức bồi thường dân sự

còn quá ít, để phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng

xét xử phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có

kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

V các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, giữ nguyên hình

phạt của Bản án hình sự sơ thẩm

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, q khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 16 (Mười sáu) năm tù về

tội “Giết người”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-7-2022.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng (Hai

trăm ngh n đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng

cáo, kháng nghị nên không xem xét; đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời

hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ