vanban.org

Bản án 286/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo N.T.O phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.

Về hình phạt và điều luật áp dụng: Xử phạt bị cáo N.T.O 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 ( Sáu mươi) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N.T.O phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2022/HSST
Ngày: 14/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi

Các hội thẩm nhân dân : Ông Dương Minh Tuấn, ông Trần Đức Anh

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 14/12/2022, Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 246/2022/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2022/QĐ-TA ngày 14 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2022/QĐ-TA ngày 02 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: N.T.O, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT : C, xã T, thành phố Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở: Phòng 1407, tòa N04, Ecohome 3, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1960; Họ tên mẹ: K.X, sinh năm 1962. Có 01 con tên Phạm Công Minh, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.Danh chỉ bản số 259 do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 20/6/2022. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 12/6/2022. Tạm giữ từ ngày 12/6/2022 đến ngày 21/6/2022. Hiện nay đang áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị N.T.T, sinh ngày 07/11/2006; Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã P, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà H.T.T, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã P, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Vinh- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp Pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Văn Thái, sinh năm 1995; Nơi ĐKNKTT: Xã Nam Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/6/2022, Công an quận Bắc Từ Liêm nhận đơn trình báo của cháu N.T.T trình báo bị N.T.O đe dọa cưỡng đoạt tài sản ở quán sapa phòng 1407, Tòa nhà N04, Ecohome 3, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm phối hợp với Công an phường Đông Ngạc khám nghiệm hiện trường, dẫn giải O, T chỉ nơi bán điện thoại di động Iphone 13 màu hồng đã qua sử dụng; 01 đồng hồ thông minh Apple Watch series 3 màu đen đã qua sử dụng. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 12/6/2022, cơ quan CSĐT – Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với N.T.O về hành vi Cưỡng đoạt tài sản.

* Thu giữ của N.T.O: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone X màu trắng, số imei 35672008178049 đã qua sử dụng; 01 đồng hồ Apple Watch seri 4 màu trắng; 01 dây đồng hồ màu đen; 01 sạc pin đồng hồ; 01 bản tường trình về việc mất điện thoại và đồng hồ thông minh ngày 11/6/2022, đề tên N.T.T. Thu giữ của Vũ Văn Thái: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, imei 356981061825106 đã qua sử dụng. Kiểm tra máy điện thoại của Thái có in ra nội dung cuộc nói chuyện giữa Thái và O; 01 thẻ nhớ camera 64Gb và 32 Gb tại phòng 1407.

Kiểm tra điện thoại Iphone 6 màu vàng của Vũ Văn Thái; Iphone X màu trắng của N.T.O; Iphone 13 màu hồng của N.T.T có nội dung tin nhắn zalo, mesenger liên quan đến vụ án.

* Ngày 13/6/2022, Cơ quan CSĐT – Công an quận Bắc Từ Liêm có Yêu cầu số 98/YC – ĐTTH định giá tài sản mà N.T.T trộm cắp.

Bản kết luận định giá tài sản số 267/KL – ĐGTS ngày 19/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND quận Bắc Từ Liêm kết luận: 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng; 01 đồng hồ Apple Watch series 4 màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 5.500.000 đồng; Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 10.500.000 đồng.

* Ngày 06/7/2022, Cơ quan CSĐT – Công an quận Bắc Từ Liêm có Yêu cầu số 208/YC – ĐTTH định giá tài sản mà N.T.O bắt cháu N.T.T đi bán.

Bản kết luận định giá tài sản số 306/KL – ĐGTS ngày 08/8/2022của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND quận Bắc Từ Liêm kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, đã qua sử dụng trị giá 15.000.000 đồng;01 đồng hồ Apple Watch series 3 màu đen, đã qua sử dụng trị giá 2.000.000 đồng;Tổng giá trị tài sản là 17.000.000 đồng.

* Ngày 13/6/2022 Cơ quan CSĐT – Công an quận Bắc Từ Liêm có Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với cháu N.T.T. Tuy nhiên cháu T đã có đơn từ chối giám định thương tích.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng ngày 05/6/2022, N.T.T sử dụng Facebook “Hoàng Trang” đăng lên nhóm tìm việc làm ở Hà Nội thì có Facebook “Minh O” của N.T.O nhắn tin mesenger cho T hỏi có thích làm spa không? T trả lời có và có giới thiệu mình sinh năm 2006 ở Lai Châu. Hai bên thỏa thuận lương thử việc hai tháng đầu là 4.000.000đ/tháng, bao nuôi ăn ở; 02 tháng sau là 4.000.000đ/tháng +10% việc +5% bán sản phẩm chăm sóc da + hoa hồng liệu trình. Ngày 06/6/2022, T bắt đầu công việc tại nhà O ở phòng 1407 tòa N04 Ecohome 3, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Công việc ban đầu là nấu cơm, gội đầu cho khách. Đến khoảng 11h30’ ngày 11/6/2022, O phát hiện mất điện thoại di động Iphone x màu trắng để ở bàn gội đầu ngoài phòng khách nên đi tìm nhưng không thấy và phát hiện camera bị ngắt quãng đúng thời gian bị mất điện thoại. Nghi ngờ T trộm cắp điện thoại của mình nên O kiểm tra đồ đạc của T thì phát hiện 01 chiếc đồng hồ Apple Watch seri 4 màu trắng của mình. Sau đó O gọi điện cho Vũ Văn Thái –là người yêu của O, sống cùng căn hộ về để kiểm tra camera. O - Thái ngồi nói chuyện và hỏi T có lấy điện thoại của O không nhưng T vẫn không thừa nhận. Đến 14h cùng ngày, O yêu cầu kiểm tra người T thì phát hiện điện thoại di động Iphone X trong áo ngực của T, do tức giận nên O đã tát T một cái nhưng T giơ tay đỡ được. Sau khi hỏi T về việc trộm cắp tài sản O bắt T ngồi ra ngoài bàn ăn ở phòng bếp viết bản tường trình sự việc gửi Công an phường Đông Ngạc, còn Thái đi vào phòng ngủ đóng cửa lại. Quá trình viết bản tường trình T đã khóc, xin O tha thứ nhưng O vẫn bắt T viết bản tường trình sự việc, sau đó chụp ảnh T đang khóc ngồi tại bàn ăn cùng bản tường trình, đồng hồ, điện thoại và căn cước công dân của T. Đến khoảng gần15h chiều cùng ngày thì Thái ngủ dậy, đi ra ngoài chạy xe ôm thì vẫn thấy O – T ngồi tại bàn ăn. Trước khi đi Thái có bảo O khi về không muốn thấy T ở trong nhà nữa rồi đi làm. Lúc này O đưa ra 03 điều kiện cho T: 1 là báo Công an; 2 là đăng tải hình ảnh, thông tin của T trộm cắp tài sản lên các trang mạng xã hội Lai Châu; 3 là thu phí học nghề 30 triệu đồng. Lo sợ bị đưa ra công an và bị bóc phốt trên mạng xã hội sẽ xấu hổ với gia đình và bạn bè nên T buộc phải lựa chọn phương án thứ ba dù trước đó T và O không hề thỏa thuận về việc T phải trả phí học nghề. Do T không có tiền nên O bắt T vay nóng bạn bè chuyển vào tài khoản của O trước 16h cùng ngày vì O có khách hẹn gội đầu lúc 16h, số tài khoản của O được in và dán ở trên tường trong phòng spa. T gọi điện thoại cho bạn bè để hỏi vay tiền nhưng không được và có nhắn tin cho cậu là Hoàng Tiến Đạt (SN 1994; NKTT: Tứ Xã, huyện Lâm Thao; tỉnh Phú Thọ) để cầu cứu nhưng không thấy ai trả lời. Một lúc sau thì mẹ của T là chị H.T.T (SN 1986) gọi cho T, T vừa khóc vừa nói, chị Thiệp không nghe rõ nội dung. Do sốt ruột vì buổi chiều còn hẹn khách gội đầu nên O bắt T tháo sim điện thoại ra còn để điện thoại Iphone 13 màu hồng, đồng hồ và quần áo lại khi nào đóng đủ 30 triệu thì O trả lại nhưng T không đồng ý. Vì T không đồng ý để lại tài sản nên O đưa T xuống sảnh tầng 1 chung cư Ecohome, O bắt xe ôm ở rìa đường, T ngồi giữa, O ngồi ngoài cùng đi bán điện thoại và đồng hồ của T tại cửa hàng phụ kiện Duy Anh địa chỉ 24 Kẻ Vẽ, Đông Ngạc, Bắc Từ Liêm, Hà Nội của anh Lê Quang Nghĩa (SN 1990; NKTT: Thành Công, Khoái Châu, Hưng Yên). Anh Nghĩa mua điện thoại với giá 15.000.000 đồng, O giục T bán nhanh lên nhưng T muốn bán giá cao hơn nên cùng O đi sang cửa hàng thứ hai tại số 22 đường Kẻ Vẽ của chị Nguyễn Thị Thu (SN 1984) nhưng chị Thu nói không mua. Sau đó O tiếp tục dẫn T đến cửa hàng điện thoại thứ 3 tại số 3 Kẻ Vẽ, Đông Ngạc của anh Đàm Trương Đô (SN 1996; NKTT: Hòa Thuận, thành phố Buôn Mê Thuật, tỉnh Đăk Lăk). Anh Đô mua điện thoại với giá 12.000.000 đồng; đồng hồ là 2.000.000 đồng. Do anh Đô mua rẻ nên T không bán và cùng O quay lại cửa hàng đầu tiên. Trên đường quay lại cửa hàng điện thoại lúc đầu thì T có gọi điện thoại cho anh Vũ Văn Thái bảo chị O bắt T bán điện thoại và đền 30.000.000 đồng thì Thái bảo để Thái nói nhẹ nhàng với O , rồi bảo T đưa máy cho O để Thái nói chuyện với O. O nói với T anh Thái không có quyền gì ở đây , T gọi điện cho Thái không giải quyết được việc gì cả . Sau đó O dẫn T quay lại cửa hàng đầu tiên, O đề nghị anh Nghĩa trả thêm tiền để mua điện thoại. Lúc này T gọi điện thoại cho anh Hoàng Tiến Đạt (SN 1994; NKTT: Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ - là cậu của T) kể lại toàn bộ sự việc thì anh Đạt bảo T không được bán, nếu bán xong mà O đánh, nhốt T ở đâu thì không ai liên lạc được . T nói lại sự việc với O như vậy và bảo hết giờ làm việc cậu T sang nói chuyện với O . O đưa T về nhà, trên đường trở về chung cư, O gọi điện thoại cho mẹ của T nói sự việc, mẹ T bảo O đưa T ra công an giải quyết nhưng O không làm vậy mà lập nhóm “chợ Lai Châu” rồi đăng tải video và hình ảnh cá nhân của T lên mạng xã hội Facebook. Khoảng 18h, Thái đi làm về và vẫn thấy T ở trong nhà nên có bảo O đưa quần áo, chứng minh thư nhân dân, điện thoại và để cho T đi.

Tại cơ quan điều tra, N.T.O khai: Khi phát hiện T trộm cắp tài sản của O nhưng T không nhận lỗi, không thành khẩn khai báo và sợ bị đưa Công an nên O nảy sinh ý định cưỡng đoạt tài sản của T rồi đuổi T đi không thuê làm việc nữa. Việc T không vay được tiền và không chịu bán điện thoại theo lời khuyên của gia đình là ngoài ý thức chủ quan của O. Quá trình O bắt T viết bản tường trình thì anh Vũ Văn Thái có biết sự việc nhưng anh Thái không rõ nội dung cụ thể như thế nào. Việc O đưa ra 03 phương án cho T lựa chọn và dẫn T đi bán điện thoại thì anh Thái cũng không biết sự việc. Khi T gọi điện thoại cho anh Thái thì O có nói việc này của O thì để tự O tự giải quyết . Sau khi bị cơ quan Công an triệu tập lên làm việc, O đã gỡ bỏ bài viết, xóa video và hủy nhóm những bài viết về T từ khoảng tháng 7/2022.

- Vũ Văn Thái trình bày: Khi T và O ngồi ở bàn ăn viết bản tường trình thì anh đi ngủ. Khoảng hơn 15h , anh dậy đi chạy xe ôm thì vẫn thấy 02 người ngồi ở bàn ăn, còn cụ thể như thế nào thì anh không biết. Đến hơn 16h thì T gọi điện thoại cho anh nói T với O đang đi bán điện thoại, O phạt T 30.000.000 đồng tiền học nghề nhưng O không đủ, Thái xin O giúp T. Nên anh mới nhắn tin, gọi điện thoại cho O nói O lấy của T 5.000.000 đồng rồi để T đi thì O bảo việc này là việc của O và nếu T xin O thì phải nhắn tin cho O để O tự giải quyết . Sau đó anh chạy xe ôm tiếp và không biết sự việc tiếp theo thế nào. Khoảng 18h, anh đi làm về và vẫn thấy T ở trong nhà nên có bảo O đưa quần áo, chứng minh thư nhân dân, điện thoại và để cho T đi.

Đối với N.T.T có hành vi trộm cắp tài sản (trị giá 10.500.000 đồng), tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội T chưa đủ 16 tuổi nên không cấu thành tội phạm. Ngày 31/8/2022, Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N.T.T về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ – CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt: Cảnh cáo.

Đối với Vũ Văn Thái, quá trình điều tra xác định Thái không tham gia, không bàn bạc với N.T.O yêu cầu cháu T đưa số tiền 30.000.000 đồng nên Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi lập nhóm, đăng tải video hình ảnh N.T.T trộm cắp tài sản của N.T.O. Xét thấy O đã thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức và cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật vi phạm điểm e khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ – CP ngày 03/2/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Sở Thông tin truyền thông thành phố Hà Nội. Ngày 08/9/2022, cơ quan CSĐT – Công an quận Bắc Từ Liêm có Công văn số 2087/CV chuyển toàn bộ hồ sơ vi phạm của N.T.O đến Sở Thông tin truyền thông thành phố Hà Nội để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Cháu N.T.T đề nghị bị cáo O bồi thường tổn hại về mặt tinh thần là 100.000.000 đồng. Sau đó T tự nguyện giảm mức bồi thường về tổn hại về mặt tinh thần là 40.000.000 đồng.

Ngày 05/7/2022, Cơ quan CSĐT – Công an quận Bắc Từ Liêm có Quyết định xử lý vật chứng số 71/QĐ trao trả 01 đồng hồ thông minh Apple Watch series 4 màu trắng ; 01 dây đồng hồ màu đen; 01 sạc pin đồng hồ cho N.T.O. Còn 02 chiếc điện thoại di động Iphone X màu trắng và kiểu dáng Iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng là tang vật của vụ án nên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 240/CT-VKS ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội quyết định truy tố N.T.O về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận thức là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có đơn trình bày đã nhận lại số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại là 30.000.000 đồng không yêu cầu gì khác và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định như bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N.T.O mức án 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 ( Sáu mươi) tháng. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì. Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo O : 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone X màu trắng, số imei 356720081780499 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong. Trả lại cho anh Vũ Văn Thái: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, imei 356981061825106 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.

Người bào chữa cho bị hại phát biểu ý kiến : Bị hại đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, N.T.O khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận định giá, cùng các tài liệu chứng cứ khác.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14h00’ ngày 11/6/2022, tại phòng 1407 tòa nhà N04 Ecohome 3, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, N.T.O đã lợi dụng việc cháu N.T.T (15 tuổi 04 tháng 05 ngày) có hành vi trộm cắp đồ của O nên O đã uy hiếp tinh thần cháu T bằng việc đe dọa đưa ra Công an xử lý hình sự hoặc đăng bài lên trên mạng xã hội khiến cháu T và gia đình xấu hổ nhằm chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng thì bị gia đình cháu T phát hiện trình báo Công an quận Bắc Từ Liêm.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản sản”. Do bị hại dưới 16 tuổi nên hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện phạm tội của

bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đủ sức răn đe, phòng ngừa chung, cũng như giúp bị cáo nhận thức rõ về hành vi vi phạm pháp luật của mình, ngăn chặn các hành vi sử dụng vũ lực chiếm đoạt tài sản của người khác.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, xét tình tiết nội dung vụ án do lỗi của bị hại dẫn đến việc phạm tội của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra xét xử. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung, giúp bị cáo trở thành công dân tốt.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận số tiền 30.000.000 đồng bồi thường do bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Trả cho N.T.O ; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone X màu trắng, số imei 356720081780499 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong . Trả lại cho anh Vũ Văn Thái: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, imei 356981061825106 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật ; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo N.T.O phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo N.T.O 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 ( Sáu mươi) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho N.T.O: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone X màu trắng, số imei 356720081780499 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong. Trả lại cho anh Vũ Văn Thái: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, imei 356981061825106 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 23/23 ngày 31/10/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

5. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo N.T.O phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi ích của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ