vanban.org

Bản án 286/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Huy V phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Huy V 13 (mười ba) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2020. Quyết định tạm giam bị cáo Hồ Huy V 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Huy V phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2021/HS-ST
Ngày 16/12/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hòa;

Bà Lê Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Đời - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 645/2021/TLST-HS ngày 21/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9619/2021/QĐXXST-HS ngày 29/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Huy V, sinh năm 1971 tại tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Tôn giáo: Phật giáo. Nơi cư trú: 62/1/21 Tổ A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12. Cha tên Hồ Ứ (Chết); Mẹ tên Trần Thị Nguyệt V1 (chết); vợ tên Trần Thị Yến M (sinh năm 1978). Nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, đi học đến lớp 9 thì nghỉ học ở nhà đi làm thuê phụ giúp gia đình.

Ngày 12/8/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 5104/QĐ.UBND đưa vào cơ sở chữa bệnh do sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 24 tháng, đến 14/8/2015 chấp hành xong.

Ngày 17/02/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt hai năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 37/2009/HSST chấp hành tại Trại giam S - Bộ C đến ngày 27/7/2010 chấp hành xong (đã xóa án tích). Tiền án tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/7/2020 tại Trại tạm giam C - Công an Thành phố H, (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Ngọc N - Luật sư của Văn phòng L, Đoàn Luật sư Thành phố H, (có mặt).

- Người bị hại: Chi nhánh Công ty cổ phần T1 tại Đồng Nai. Người được đại diện theo ủy quyền là ông Trần Mạnh H, sinh năm 1971; địa chỉ: 4 Đường số B, khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 15 phút, ngày 03/7/2020, anh Hoàng Văn D là lái xe taxi T1 đang đậu xe ô tô Huyndai I10, biển số 60A-288.60 tại cây xăng A, khu phố1, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để chờ khách thì Hồ Huy V đi đến kêu anh D chở đi ngã tư T, Thành phố Hồ Chí Minh, anh D đồng ý chở, V lên xe ngồi bên ghế phụ phía trước. Khi đến ngã tư T, V nói anh D đi tiếp đến vòng xoay H, quận B. Khi anh D điều khiển xe chạy qua chân cầu S thuộc Phường B, quận B thì V kêu anh D tấp xe vào lề và chồm người giằng lấy vô lăng xe ô tô, đồng thời dùng tay đấm vào ngực và tay trái anh D, anh D hoảng sợ nên mở cửa chạy ra khỏi xe và đi đến Công an P, quận B trình báo. Lúc này Vũ trèo qua ghế lái điều khiển xe ô tô trên tẩu thoát về hướng thị xã B, tỉnh Bình Dương. Khi V lưu thông đến đoạn đường NA3, khu phố C, phường M, thị xã B thì bị tổ tuần tra Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương trước đó đã nhận được tin báo nên phát hiện xe ô tô hiệu Hyundai I10, biển số 60A-288.60 lưu thông liền ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra, V tăng ga bỏ chạy, tổ tuần tra đuổi theo đến vòng xoay M, phường M, thị xã B thì V lao vào vòng xoay gây tai nạn, tổ tuần tra bắt giữ V cùng tang vật giao cho cơ quan Công an xử lý.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Hồ Huy V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1298/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp thành phố kết luận: Giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô Hyundai I10, biển số 60A-288.60 thời điểm ngày 03/7/2020 có giá là 214.172.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc xe ô tô Hyundai I10, biển số 60A-288.60, cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện Chi nhánh Công ty Cổ phần T1 tại Đồng Nai.

Về phần dân sự: Ông Trần Mạnh H - là người đại diện theo ủy quyền của Chi nhánh Công ty Cổ phần T1 tại Đồng Nai có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thiệt hại hư hỏng xe ô tô là 237.691.520 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 343/CT-VKS-P2 ngày 01/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hồ Huy V phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm,

- Bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại, bị cáo V đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Huy V phạm tội “Cướp tài sản”. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo V phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo V từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) năm tù giam. Đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận đồng ý bồi thường của bị cáo đối với yêu cầu của người bị hại.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng, về mặt tội danh, Luật sư đồng tình với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Tuy nhiên, mong Hội đồng xét xử khi lượng hình, cần xem xét: mặc dù bị cáo có hành vi cướp tài sản của người khác là sai trái, là vi phạm pháp luật, nhưng sau khi bị bắt và trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ và áp dụng mức hình phạt có tính chất khoan hồng để bị cáo sớm trở về với gia đình, làm lại cuộc đời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo mức án 12 năm tù giam.

- Bị cáo V thống nhất với lời bào chữa của Luật sư và không tranh luận thêm với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, áp dụng hình phạt với mức án khoan hồng, để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, người bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào kết quả xét hỏi, thẩm tra cho thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án và phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ ngày 03/7/2020, khi đang đi cùng trên chiếc xe Huynhdai I10, biển số 60A-288.60 đến khu vực chân cầu S thuộc Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Huy V đã có hành vi chồm người giằng lấy vô lăng xe ô tô, đồng thời dùng tay đấm vào ngực và tay trái anh D (người lái xe), chiếm đoạt chiếc xe ô tô nêu trên và tẩu thoát. Khi lưu thông đến vòng xoay M, phường M, thị xã B thì bị tổ tuần tra Công an thị xã B bắt giữ.

Như vậy, với mục đích và động cơ cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản, bị cáo V đã đã có hành vi dùng vũ lực khiến anh D không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo đã chiếm đoạt được tài sản, hành vi phạm tội đã hoàn thành. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo kết luận định giá tài sản của cơ quan có thẩm quyền, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 214.172.000 đồng nên thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm a khoản 3 của điều luật nêu trên.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở kết luận bị cáo Hồ Huy V đã phạm tội “Cướp tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017) là có cơ sở.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có sức khỏe bình thường, nhưng lười lao động nên đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bất hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên cùng với nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Xét thấy, người đại diện của người bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 237.691.520 đồng, tại phiên tòa bị cáo V chấp nhận yêu cầu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận theo quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Xét thấy, vật chứng trong vụ án đã được Cơ quan điều tra giao trả cho người bị hại, việc giao trả là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm:

Bị cáo Hồ Huy V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường 237.691.520 đồng, tương đương án phí là 11.884.576 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tuyên bố bị cáo Hồ Huy V phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Huy V 13 (mười ba) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2020.

- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Quyết định tạm giam bị cáo Hồ Huy V 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Điều 586 của Bộ luật Dân sự năm 2015,

Buộc bị cáo Hồ Huy V bồi thường cho Chi nhánh Công ty cổ phần T1 tại Đồng Nai (Người được đại diện theo ủy quyền là ông Trần Mạnh H, sinh năm 1971; địa chỉ: 4 Đường số B, khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) số tiền 237.691.520 (hai trăm ba mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi) đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Hồ Huy V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 11.884.576 (mười một triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bảy mươi sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo Hồ Huy V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ