vanban.org

Bản án 286/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 21/10/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà rần hị C1.

Sửa bản án sơ thẩm số 98/2019/DS-S ngày 08/5/2019 của t a án nh n d n huyện C, tỉnh . Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Nguyễn hị Diệu H về các yêu cầu: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Diệu H, Nguyễn Thị Kiều C"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà rần hị C1.
  • Căn cứ chính? luật tố tụng d n sự; Điều 123 Bộ luật d n sự; Điều 188 Bộ luật d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 286/2019/DS-PT
Ngày: 21/10/2019.
V/v tranh chấp “hợp đồng
vay tài sản, hợp đồng cho
thuê lại tài sản, hợp đồng
mua bán tài sản, yêu cầu bồi
thường thiệt hại do thu nhập
bị mất và yêu cầu chấm dứt
hành vi cản trở trái pháp
luật”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu;

Các Thẩm phán: Ông Mai Hoàng Khải.

Bà Trần Thị Kim Em.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đ ng Thị Thanh Trinh,Thư

a án nh n d n tỉnh iền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:-Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

rong các ngày 14 tháng 10 và 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở a án nh n d n tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án d n sự thụ l số 226/2019/TLPT-DS ngày 14/8/2019 về việc tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản hợp đồng cho thuê lại tài sản, hợp đồng mua bán tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”.

Do bản án d n sự sơ thẩm số 98/2019/DS-S ngày 08/5/2019 của a án nh n d n huyện C, tỉnh T bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2019/QĐ-P ngày 19/8/2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1975;

rú tại: ấp Đ, xã , huyện C, tỉnh T.

Đại diện ủy quyền: Dương Thị Kim L, sinh năm 1972 (có mặt);

Địa chỉ: số A, ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh T ( heo văn bản ủy quyền ngày 01/12/2018).

* Bị đơn: Nguyễn Thị Kiều C, sinh năm 1981 (vắng mặt);

Phan Hoàng T, sinh năm 1982 (vắng mặt);

Cùng trú tại: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty cổ phần thương mại M (vắng mặt);

Trụ sở: số B đường L, phường F, thành phố M, tỉnh T.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H - chức vụ: C HĐQ .

2/Nguyễn Bảo S, sinh năm 1979 (vắng mặt);

3/ Trần Thị C1, sinh năm 1976 (có mặt);

Cùng trú tại: ấp B, xã , huyện C, tỉnh T.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà rần Thị C có ông Lê hành Đ– Luật sư – chi nhánh văn ph ng luật sư B1– Đoàn luật sư thành phố C (có mặt).

4/Cao Văn T , sinh năm 1973 (có đơn vắng mặt).

rú tại: ấp Đ , xã , huyện C , tỉnh T .

* Người làm chứng: Bùi Thị M, sinh năm 1968 (có đơn vắng mặt).

rú tại: ấp N , xã , huyện C , tỉnh T .

*Người háng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị C1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, chị Dương Thị Kim L trình bày:

Vào ngày 01/6/2017, chị Nguyễn Thị Diệu H có cho vợ chồng chị Nguyễn Thị Kiều C và anh Phan Hoàng vay số tiền là 415.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng, thời hạn vay là một tháng, có viết biên nhận. Khi đến thời hạn trả tiền, chị C và anh

hông có tiền trả cho chị H nên ngày 19/8/2017, chị C và anh T thống nhất sang nhượng lại cho chị H một Ki-ốt có số hiệu là K-06 thuộc dãy ki-ốt nhà lồng chính tại chợ T với giá sang nhượng là 365.000.000 đồng, bao gồm cả tài sản bên trong i ốt là số giày dép c n tồn động, việc thỏa thuận có làm giấy tay. Số tiền sang nhượng này được khấu trừ vào số tiền vay 415.000.000 đồng nên chị C và anh

c n nợ lại chị H là 50.000.000 đồng. uy nhiên đến ngày 07/9/2017, chị C lại tiếp tục sang nhượng ki-ốt trên cho chị Trần Thị C1 mà hông bàn bạc, thỏa thuận với chị H.

Nay chị H yêu cầu:

+ Chị Nguyễn Thị Kiều C và anh Phan Hoàng có nghĩa vụ liên đới trả cho chị H số tiền vốn vay là 50.000.000 đồng, hông yêu cầu tính lãi, chị H yêu cầu chị C và anh trả số tiền trên làm 01 lần hi án có hiệu lực pháp luật.

+ Chị H yêu cầu hủy hợp đồng thuê mặt bằng theo phụ lục hợp đồng ngày 07/9/2017 được

ết giữa Công ty cổ phần thương mại M, chị Nguyễn Thị Kiều C và chị Trần Thị C1 . Đồng thời yêu cầu chị C, chị C1 và anh giao cho chị H quản l , sử dụng Ki-ốt có í hiệu số K-06 tại chợ T thuộc dãy i-ốt nhà lồng chính.

+ Chị H yêu cầu chị Trần Thị C1 có nghĩa vụ hoàn lại giá trị tài sản trong ki-ốt í hiệu K-06 là 170.000.000 đồng. Đồng thời yêu cầu chị C1 bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất vì hông inh doanh được tính từ ngày 16/11/2017 đến ngày xét xử, tạm tính đến ngày hởi kiện bổ sung là 79.000.000 đồng, thực hiện một lần ngay hi án có hiệu lực pháp luật.

*Bị đơn chị Nguyễn Thị Kiều C trình bày:

Anh Phan Hoàng là chồng chị. Vào ngày 01/6/2017, chị và anh có vay của chị H số tiền là 415.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất cho vay là 3%/tháng. Nhưng hi đến hạn, vợ chồng chị hông có tiền trả cho chị H nên ngày 19/8/2017, chị và anh có hợp đồng sang nhượng quyền kinh doanh ki-ốt số hiệu K-06 tại chợ T cho chị H với giá sang nhượng là 365.000.000 đồng, bao gồm cả tài sản trong Ki-ốt. Số tiền sang nhượng vợ chồng chị cấn trừ vào số nợ theo biên nhận ngày 01/6/2017 nên vợ chồng chị c n nợ lại chị H số tiền vay là 50.000.000 đồng. Nay chị H yêu cầu chị và anh trả cho chị H số tiền 50.000 đồng, chị đồng .

Ngày 07/9/2017, chị tiếp tục sang nhượng Ki-ốt số hiệu K-06 và toàn bộ tài sản bên trong Ki-ốt cho chị Trần Thị C1, việc sang nhượng này chị và chị C1 đã ra Công ty cổ phần thương mại M làm thủ tục sang tên theo quy định nhưng việc sang nhượng này anh hoàn toàn hông biết. Khi thỏa thuận sang nhượng, chị C1 có đưa cho chị 100.000.000 đồng, để chuộc hợp đồng lại, ngoài ra hông c n khoản tiền nào hác. Khi thỏa thuận sang nhượng với chị C1, chị hông có nói cho chị C1 biết việc chị đã bán Ki-ốt số hiệu K-06 và tài sản bên trong cho chị H. Đến ngày 22/10/2017, khi chị H đã hởi kiện chị ra a án thì chị C1 đã êu chị đến nhà của chị C1 và đưa cho chị tờ giấy có ghi nội dung chị có sang nhượng toàn bộ mặt bằng và giày dép cho chị Chi. Chị Chi đã yêu cầu chị viết theo nội dung trên. Do chị đang thiếu nợ chị C1 nên chị đã viết lại nội dung theo yêu cầu của chị C1. Cuối văn bản của chị ghi ngày 22/10/2017 hông phải ngày 12/10/2017 như chị C1 trình bày. Hiện nay, theo nội dung văn bản chị C1 nộp cho a án có phần xác nhận của Ban quản l chợ và Ủy ban nh n d n xã và sửa chữa thành ngày 12/10/2017 là do chị C1 tự thực hiện. Chị hông mang giấy này đến Ban quản l chợ và Ủy ban nh n d n xã xác nhận. rong văn bản này có ghi, chị đã nhận đủ số tiền của chị C1 là hông đúng, hông rõ ràng, hông thể hiện được số tiền là bao nhiêu tiền vì lúc viết giấy chị và chị C1 chưa thỏa thuận việc sang nhượng ki-ốt hiệu K-06 và tài sản bên trong với giá bao nhiêu tiền, trả tiền như thế nào. Chị viết và tên vào giấy là chị bị chồng chị C1 - anh Nguyễn Bảo S - ép buộc. Mặc hác, tài sản này là tài sản chung của vợ chồng chị, chị hông thể một mình tự quyết định. Nay chị hông đồng với yêu cầu độc lập của chị C1. Chị đồng với yêu cầu khởi kiện của chị H và đồng giao i ốt số hiệu K-06 và tài sản trong ki-ốt cho chị H quản l , inh doanh. Chị cũng đồng hủy phụ lục hợp thuê mặt bằng đã

ết ngày 07/9/2017 với chị C1 tại Công ty cổ phần thương mại M . Chị đồng giao cho chị H tiếp tục quản l , sử dụng ki-ốt số hiệu K-06.

* Bị đơn anh Phan Hoàng T trình bày:

Anh là chồng của chị C. Theo hợp đồng thuê mặt bằng số 06 ngày 10/02/2015 với Công ty cổ phần thương mại M mà chị C đại diện tham gia

ết với thời hạn thuê 15 năm, giá thuê 330.000.000 đồng, số tiền này là tài sản chung của vợ chồng anh. Do vợ chồng anh hông có tiền trả cho chị H nên ngày 19/8/2017, vợ chồng anh đã thống nhất sang nhượng mặt bằng ki-ốt có số hiệu K-06 cho chị H với giá sang nhượng là 365.000.000 đồng để cấn trừ số nợ vay, bao gồm cả tài sản bên trong i-ốt. Việc thỏa thuận, hai bên có làm giấy viết tay với sự chứng kiến của bà Bùi hị M. Việc chị C tiếp tục sang nhượng mặt bằng ki-ốt có í hiệu K-06 và tài sản bên trong Ki-ốt cho chị C1 thì anh hoàn toàn hông biết nên anh hông đồng với giao dịch này giữa chị C và chị C1. Nay anh yêu cầu hủy phụ lục hợp đồng cho thuê mặt bằng ngày 07/9/2017 mà chị C đã

ết với chị Trần Thị C1, anh đồng giao cho chị H tiếp tục, quản l sử dụng ki ốt có í K-06.

* Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị C1 có bà Hồ Thị N trình bày:

Vào ngày 07/9/2017, chị C có làm hợp đồng sang nhượng cho chị C1 một ki-ốt có số hiệu K-06 diện tích là 15 m2 tọa lạc tại chợ T1 thuộc xã , huyện C, tỉnh T với tổng số tiền là 442.000.000 đồng, bao gồm tiền thuê mặt bằng và giá trị tài sản bên trong i-ốt gồm: giày dép, nón, túi xách, mỹ phẩm... Sau khi thỏa thuận xong về giá, chị C1 và chị C có làm phụ lục hợp đồng với Công ty cổ phần thương mại M vào ngày 07/9/2017 và chị C đã nhận đủ số tiền này của chị C1. Ngày 12/10/2017, chị C đã làm biên bản bàn giao ki ốt cho chị C1 có Ban quản l chợ và Ủy ban nh n d n xã xác nhận. Chị C cũng giao toàn bộ chìa hóa cho chị C1. Đến chiều ngày 13/10/2017, chị H đã dùng chìa hóa hác đến hóa i-ốt có số hiệu K-06 của chị C1 tại chợ T1 và hăm dọa nếu chị C1 mở cửa và bán các sản phẩm bên trong thì sẽ hành hung chị C1. Chị H nói chị C có làm giấy tay sang nhượng ki-ốt có số hiệu K-06 cho chị H. Việc chị C đã làm hợp đồng sang nhượng cho chị C1 đúng theo quy định của pháp luật nhưng chị H cản trở làm cho chị C1 bị mất thu nhập hông inh doanh buôn bán được.

Nay chị C1 yêu cầu a án buộc chị C phải bàn giao cho chị C1 tài sản trong Ki-ốt và Ki-ốt có số hiệu K-06 tại chợ T1, huyện C, tỉnh T theo hợp đồng ngày 07/9/2017 và biên bản bàn giao ngày 12/10/2017. Đồng thời, chị C1 yêu cầu chị H chấm dứt hành vi cản trở chị C1 quản l và sử dụng ki-ốt có số hiệu K-06 tại chợ T1 (trong đó có các tài sản gồm: giày dép, túi xách, nón vải và mỹ phẩm). Chị C1 yêu cầu chị H bồi thường thiệt hại do bị mất thu nhập trong thời gian hông inh doanh tại ki ốt này mỗi ngày là 200.000 đồng kể từ ngày 13 tháng 10 năm 2017 cho đến ngày chị C1 được mở cửa buôn bán lại.

Vào ngày 21/11/2017, chị C1 làm đơn xin rút lại phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chị H phải bồi thường cho chị C1mỗi ngày là 200.000 đồng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan công ty cổ phần thương mại M trình bày:

Công ty cổ phần thương mại M đã thực hiện xong việc thay đổi thông tin người thuê i-ốt có số hiệu K-06 thuộc dãy nhà lồng chợ chính thuộc phạm vi chợ T1, theo đề nghị thay đổi thông tin thuê mặt bằng và phụ lục hợp đồng thuê mặt bằng ngày 07/9/2017 giữa chị C và chị C1 được quy định tại khoản 5.2 Điều 5 của hợp đồng cho thuê mặt bằng số 06NLC/2015/HĐ MB ngày 10/02/2015 quy định về nghĩa vụ và quyền của bên thuê, trong đó tại điểm 5.2.3 quy định bên thuê: “Được cho thuê lại một phần hoặc toàn bộ diện tích mặt bằng kinh doanh đang thuê, nếu được bên cho thuê đồng bằng văn bản”. Việc thỏa thuận giá cho thuê tiếp tục trong thời gian c n lại của hợp đồng là do chị C và chị C1 quyết định. Công ty cổ phần thương mại M xin vắng mặt trong phiên họp tiếp cận, công hai chứng cứ và h a giải và phiên t a sơ thẩm vụ kiện này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bảo S trình bày:

Anh là chồng của chị C1. Anh đồng với yêu cầu khởi kiện của chị C1 và

hông đồng với yêu cầu khởi kiện của chị H. Anh S có đơn xin vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Văn T trình bày:

Anh là chồng của chị H. Anh thống nhất với lời trình bày của chị H. Anh

hông hai gì thêm. Anh có đơn xin vắng mặt.

* Người làm chứng bà Bùi Thị M trình bày:

Vào ngày 19/8/2017, bà có chứng kiến toàn bộ sự việc sang nhượng ki-ốt có số hiệu K-06 tại chợ T1 và toàn bộ tài sản bên trong i-ốt tại nhà lồng chợ T1 giữa chị C, anh và chị H. Cụ thể, chị C, anh T thống nhất sang nhượng toàn bộ ki-ốt có số hiệu K-06 và tài sản bên trong cho chị H với giá là 365.000.000 đồng. Số tiền này được trừ vào số nợ chị C, anh đã nợ chị H trước đó. Do bận việc nên bà đề nghị a án cho bà vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết án.

* Bản án sơ thẩm số: 98/2019/DS-S ngày 08/5/2019 của a án nh n d n huyện C, tỉnh căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 229 Bộ luật tố tụng d n sự;

Áp dụng các Điều 123, 131, 430,434,463,466 và Điều 475 Bộ luật d n sự năm 2015.

Áp dụng Điều 33 Luật hôn nh n gia đình;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UB VQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diệu H.

- Buộc chị Nguyễn Thị Kiều C và anh Phan Hoàng có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Diệu H số tiền vay là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), trả một lần ngay hi án có hiệu lực pháp luật.

- Hủy hợp đồng ngày 19/8/2017 về việc cho thuê lại Ki-ốt có số hiệu K-06 thuộc dãy nhà lồng chợ chính thuộc phạm vi chợ T1, huyện C, tỉnh T giữa chị Nguyễn Thị Diệu H, chị Nguyễn Thị Kiều C và anh Phan Hoàng .

- Hủy Phụ lục hợp đồng ngày 07/9/2017 giữa chị Nguyễn Thị Kiều C, chị Trần Thị C1 và Công ty cổ phần thương mại M.

- Hủy hợp đồng mua bán tài sản trong Ki-ốt có số hiệu K-06 gồm giày, dép, nón, mỹ phẩm… giữa chị chị Nguyễn Thị Kiều C và chị Trần Thị C1 ngày 12/10/2017.

- Chị Trần Thị C1 được quyền sở hữu toàn bộ tài sản trong Ki-ốt có số hiệu K-06 thuộc dãy nhà lồng chợ chính thuộc phạm vi chợ T1, huyện C, tỉnh T.

- Buộc chị Trần Thị C1 có nghĩa vụ di dời toàn bộ tài sản trong Ki-ốt có số hiệu K-06 để bàn giao toàn bộ mặt bằng Ki-ốt có số hiệu K-06thuộc dãy nhà lồng chợ chính thuộc phạm vi chợ T1 chị Nguyễn Thị Kiều C và anh Phan Hoàng . Diện tích Ki-ốt có số hiệu K-06: 15m2; kết cấu: cột bê-tông, vách tường, mái tole, cửa sắt cuốn, trần thạch cao, nền lát gạch men.

Địa chỉ: ấp Đ, xã , huyện C, tỉnh T.

[Theo hợp đồng cho thuê mặt bằng (cho thuê Kiot inh doanh tại Chợ T1) số 06NLC/2015/HĐ MB-C B ngày 10/02/2015 giữa chị Nguyễn Thị Kiều C với Công ty cổ phần thương mại M].

- Buộc chị Nguyễn Thị Kiều C và anh Phan Hoàng có nghĩa vụ hoàn lại tiền cho thuê lại Ki-ốt có số hiệu K-06 cho chị Nguyễn Thị Diệu H là 195.000.000 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu đồng).

- Buộc chị Nguyễn Thị Kiều C có nghĩa vụ hoàn lại cho chị Trần Thị C1 tiền cho thuê lại Ki-ốt có số hiệu K-06 là 262.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi hai triệu đồng).

- Buộc chị Trần Thị C1 có nghĩa vụ hoàn lại cho chị Nguyễn Thị Diệu H giá trị tài sản trong Ki-ốt có số hiệu K-06 là 170.0000.000 đồng và bồi thường thu nhập bị mất với số tiền là 67.138.400 đồng, tổng cộng là 237.138.400 đồng (hai trăm ba mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm đồng).

- Buộc chị Trần Thị C1có nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị Kiều C số tiền là 67.138.400 đồng (Sáu mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm đồng).

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của anh Phan Hoàng rung về việc yêu cầu hủy Phụ lục hợp đồng ngày 07/9/2017 giữa chị Nguyễn Thị Kiều Chinh, chị Trần Thị Chi và Công ty cổ phần thương mại Mỹ Tho.

3. Đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của chị Trần Thị C1 về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Diệu H bồi thường thunhập bị mất do hông inh doanh được.

4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị C1 về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Diệu H chấm dứt hành vi cản trở việc Trần Thị C1 quản l , sử dụng Ki-ốt có số hiệu K-06và tài sản trong Ki-ốt có số hiệu K-06.

5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị C1 đối với chị Nguyễn Thị Kiều C về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Kiều C bàn giao Ki-ốt có số hiệu K-06 thuộc dãy nhà lồng chợ chính thuộc phạm vi chợ T1.

6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diệu H về việc yêu cầu chị Trần Thị C1, chị Nguyễn Thị Kiều C và anh Phan Hoàng bàn giao Ki-ốt có số hiệu K-06 thuộc dãy nhà lồng chợ chính thuộc phạm vi chợ T1.

*Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về án phí và quyền háng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 13/5/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị C1 có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 98/2019/DS-S ngày 08/5/2019, vì bản án xét xử dựa trên các tài liệu, chứng cứ hông hách quan, x m hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của chị.

ại phiên t a phúc thẩm bà rần hị C1 vẫn giữ nguyên háng cáo, yêu cầu t a án công nhận hợp đồng chuyển nhượng thuê lại iốt giữa bà và bà Nguyễn hị Kiều C là hợp pháp và buộc bà Nguyễn hị Diệu H chấm dứt hành vi cản trở bà quản l sử dụng iốt nêu trên.

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà rần hị C1 phát biểu: cho rằng hợp đồng thuê lại iốt K-06 của chị C1 và chị Kiều C là phù hợp với pháp luật được bên cho thuê công nhận quyền và nghĩa vụ đôi bên đến nay trên 02 năm đã thực hiện xong, đã được bàn giao và inh doanh. Luật sư đề nghị chấp nhận háng cáo của chị C1.

*Đại diện Viện iểm sát nh n d n tỉnh phát biểu quan điểm: về việc tu n theo pháp luật của Thẩm phán, thư t a án và Hội đồng xét xử, từ khi thụ l cho đến trước thời điểm nghị án đều tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu háng cáo của bà Trần Thị C1 là hông có cơ sở, bản án sơ thẩm xử là phù hợp đúng quy định pháp luật, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, iến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên t a phúc thẩm, chị C, anh , công ty cổ phần thương mại M, anh S vắng mặt, mặc dù đã được t a án triệu tập hợp lệ lần thứ hai do đó t a án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 và hoản 3 Điều 296 của bộ luật tố tụng d n sự.

Về tố tụng: Qua yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn hị Diệu H, bị đơn anh Phan Hoàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà rần hị C1 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mua bán tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”. Khi thụ l vụ án t a án cấp sơ thẩm xác định thiếu quan hệ tranh chấp: “yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất” tuy nhiên hi xét xử t a án cấp sơ thẩm đã giải quyết luôn quan hệ tranh chấp này, nên cần rút inh nghiệm. Căn cứ hoản 3, hoản 6 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015, t a án cấp sơ thẩm thụ l giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về yêu cầu háng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà rần hị C1 xét thấy: Kiốt số 06 tại chợ 1, huyện C, tỉnh thuộc sở hữu của công ty cổ phần thương mại M. Ngày 10/02/2015 bà Nguyễn hị Kiều C có hợp đồng số 06 NLC/2015/HĐ MB thuê iốt số K-06 của công ty cổ phần thương mại M với giá thuê 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng) thời hạn thuê là 15 năm (Bút lục số 134-135).

Ngày 07/9/2017 bà Kiều C đã hợp đồng chuyển chuyển i ốt cho bà rần hị C1 với số tiền 432.000.000 đồng (gồm tiền thuê i ốt 262.000.000 đồng và tài sản trong i ốt là 170.000.000 đồng). Hợp đồng được công ty cổ phần thương mại M đồng cho chuyển nhượng, thể hiện bằng việc thay đổi thông tin người thuê i ốt tại phụ lục hợp đồng thuê mặt bằng ngày 07/9/2017 có xác nhận của công ty cổ phần thương mại M, thực tế sau hi hợp đồng bà C1 đã quản l , sử dụng i ốt để buôn bán cho đến nay.

Việc chuyển quyền thuê i ốt từ bà C qua bà C1 được công ty cổ phần thương mại M chấp thuận, phù hợp với các quy định sau:

heo điểm 5.2.3 của hợp đồng số 06 ngày 10/02/2015 về việc thuê i ốt mà bà C

với công ty cổ phần thương mại M quy định: “Bên thuê được cho thuê lại một phần hoặc toàn bộ diện tích mặt bằng inh doanh đang thuê, nếu được bên cho thuê đồng bằng văn bản”.

Khoản 2 Điều 188 của Bộ luật d n sự năm 2015 quy định: “Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người hác nếu được chủ sở hữu đồng ”.

Điều 475 Bộ luật d n sự năm 2015 quy định: “Bên thuê có quyền cho thuê lại tài sản lại mà mình đã thuê, nếu được bên cho thuê đồng ”, phù hợp với quan điểm của công ty cổ phần thương mại M nên giao dịch nêu trên giữa bà C và bà C1 là hợp pháp.

ại giai đoạn xét xử sơ thẩm bà C1 rút một phần yêu cầu hởi iện, hông yêu cầu bà H bồi thường thiệt hai do hành vi cản trở inh doanh của bà H đối với bà C1. a án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu này của bà C1 là đúng theo quy định tại hoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015.

Bị đơn anh Phan Hoàng có yêu cầu hởi iện phản tố. uy nhiên đến ngày 02/4/2019 ông có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu hởi iện phản tố, t a án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của anh T là đúng quy định pháp luật tại hoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015. Mặt hác, theo hợp đồng chị C là người đứng tên trong hợp đồng thuê i ốt, chị có đầy đủ các quyền theo ghi nhận tại hợp đồng, anh hông có iến đối với thỏa thuận giữa chị C và chị C1, đã rút yêu cầu phản tố nên cần giải quyết theo tinh thần án lệ số 04.

Đối với yêu cầu hởi iện của bà Nguyễn hị Diệu H, xét thấy việc chị C, anh viết giấy tay giao i ốt số K-06 cho bà H để trừ số nợ mà chị C, anh thiếu nợ bà H là hông hợp pháp vì đ y là tài sản mà bà C thuê của công ty cổ phần thương mại M, việc cấn trừ nợ hông được công ty cổ phần thương mại M đồng , cho phép nên trái với quy định tại điểm 5.2.3 của hợp đồng số 06 ngày 10/02/2015 mà bà C đã hi thuê i ốt của công ty cổ phần thương mại M và vi phạm quy định tại hoản 2 Điều 188 và Điều 475 của Bộ luật D n sự năm 2015. Nên yêu cầu hởi iện của bà H là hông có cơ sở chấp nhận.

Đối với số tiền vay nợ của chị C, anh với bà H do việc cấn trừ i ốt số K-06 vào số nợ này là hông hợp pháp. Nên bà H có quyền hởi iện chị C, anh T để đ i nợ vay bằng vụ iện hác theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu háng cáo của bà rần hị C1 là có cơ sở pháp l . Do đó hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà C1, sửa án sơ thẩm.

Đề nghị của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rần hị C1 phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện iểm sát nh n d n tỉnh iền G tại phiên t a là chưa phù hợp với giao ết của hợp đồng, quy định của pháp luật và thực tế sự việc nên hông được chấp nhận.

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào hoản 3, hoản 6 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, hoản 2 Điều 244, hoản 2, hoản 3 Điều 296, hoản 2 Điều 308, hoản 1 Điều 309, Điều 148, hoản 3 Điều 218 của bộ luật tố tụng d n sự năm 2015.

Căn cứ vào hoản 2 Điều 188, Điều 123, Điều 430, Điều 434, Điều 475 của Bộ luật d n sự năm 2015.

Căn cứ Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UN VQH ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí t a án, điểm b hoản 1 mục II Danh mục án phí (ban hành èm theo Nghị quyết số 326/2016/UB VQH 14).

Xử: Chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà rần hị C1.

Sửa bản án sơ thẩm số 98/2019/DS-S ngày 08/5/2019 của t a án nh n d n huyện C, tỉnh .

1.Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Nguyễn hị Diệu H về các yêu cầu:

Yêu cầu hủy hợp đồng thuê lại i ốt K-06 tại chợ ngày 19/8/2017 và hủy phụ lục hợp đồng ngày 07/9/2017 được

ết giữa công ty cổ phần thương mại M với bà Nguyễn hị Kiều C và bà rần hị C1; yêu cầu bà Nguyễn hị Kiều C, ông Phan Hoàng , bà rần hị C1 giao cho bà Nguyễn hị Diệu H quản l , sử dụng i ốt có hiệu số -06 thuộc dãy i ốt nhà lồng chính tại chợ 1; yêu cầu bà rần hị C1 hoàn giá trị tài sản trong i ốt số K -06 là 170.000.000 đồng và thiệt hại do thu nhập bị mất là 79.000.000 đồng; yêu cầu chị Nguyễn hị Kiều C, anh Phan Hoàng liên đới trả số tiền vốn vay 50.000.000 đồng (50.000.000 đồng này nằm trong số nợ của chị C, anh T đối với bà H được tách ra bằng vụ iện hác).

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hởi iện phản tố của anhPhan Hoàng về việc yêu cầu hủy phụ lục hợp đồng ngày 07/9/2017 giữa bà Nguyễn hị Kiều C, bà rần hị C1 và công ty cổ phần thương mại M.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà rần hị C1 về việc yêu cầu bà Nguyễn hị Diệu H bồi thường thu nhập bị mất do hông inh doanh được.

4. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà rần hị C1 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng i ốt số hiệu K-06 thuộc dãy nhà lồng chợ 1, huyện C, tỉnh theo phụ lục hợp đồng ngày 07/9/2017 giữa bà Nguyễn hị Kiều C, bà rần hị C1 và công ty cổ phần thương mại M, bà rần hị C1 được quyền quản l , sử dụng i ốt số K- 06 trên theo đúng các điều hoản hợp đồng mà công ty cổ phần thương mại M đã quy định.

5.Buộc bà Nguyễn hị Diệu H chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật, bà rần hị C1 quản l , sử dụng i ốt số K-06 và tài sản trong i ốt K -06 nêu trên.

6.Án phí:

- Bà Nguyễn hị Diệu H phải chịu 12.450.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm có giá ngạch và 300.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm hông có giá ngạch, Bà H đã tạm nộp 12.575.000 đồng dự phí d n sự sơ thẩm theo các biên lai thu số 35988 ngày 08/11/2017, số 35897 ngày 20/10/2017 và số 0015536 ngày 24/12/2018 của chi cục thi hành án d n sự huyện C hấu trừ nên bà H c n phải nộp tiếp số tiền là 175.000 đồng.

- Hoàn lại cho anh Phan Hoàng 300.000 đồng dự phí d n sự sơ thẩm theo biên lai thu số 35920 ngày 24/10/2017 của chi cục thi hành án d n sự huyện C, tỉnh T.

- Bà rần hị C1 hông phải chịu án phí d n sự sơ thẩm và án phí d n sự phúc thẩm, nên hoàn lại cho bà rần hị C1 số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) dự phí d n sự sơ thẩm theo các biên lai thu số: 35938 ngày 26/10/2017, số 35937 ngày 30/10/2017 và số tiền 300.000 đồng dự phí d n sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0002523 ngày 13/5/2019 của chi cục thi hành án d n sự huyện C, tỉnh .

Bản án d n sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

rường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án d n sự, người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 của Luật thi hành án d n sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án d n sự.

Án tuyên vào lúc 08 giờ 45 phút ngày 21/10/2019 có mặt chị H, chị C1.

Cỡ chữ