vanban.org

Bản án 286/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Phú H phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lê Phú H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2017. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 74, Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phú H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Phú H phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 286/2017/HSST
Ngày 31- 10 -2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Thế.

2. Ông Phạm Minh Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 285/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 294/2017/HSST-QĐ ngày 16/10/2017 đối với bị cáo:

Lê Phú H, sinh năm 1989 tại Thanh Hóa; thƣờng trú: Đội 11 xóm T, xã H, huyện S, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Tổ 39 khu phố L, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Phú H1, sinh năm 1954 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/4/2013 Chủ tịch UBND huyện S, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định số 450/QĐ-UBND về việc đƣa vào trung tâm Giáo dục - LĐXH tỉnh Thanh Hóa cai nghiện ma túy vời thời gian 02 năm, ngày 02/4/2015 chấp hành xong quyết định; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 18/4/2017, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị cáo Lê Phú H sử dụng ma túy (Methamphetamine) từ năm 2012, vào ngày 16/4/2017, H đến khu vực khu phố L, phƣờng H, thị xã K mua của ngƣời tên T (không rõ nhân thân) 01 gói ma túy với giá 1.700.000đồng, H mang ma túy về phòng trọ chia thành 02 bịch nhỏ. Khoảng 22 giờ ngày 18/4/2017, H mang số ma túy đã mua đi tìm ngƣời tên C (không rõ nhân thân) là bạn để sử dụng ma túy, khi đi đến trƣớc dãy trọ địa chỉ tổ 33 khu phố L, phƣờng H, thị xã K bị Công an phƣờng H kiểm tra hành chính, lập biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 02 túi nylong miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2610 có sim số 0981.170.900.

Kết luận giám định số 212/MT-PC54 ngày 27/4/2017 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ từ Lê Phú H có Methamphetamine tổng trọng lƣợng 2,9578gam, hàm lƣợng Methamphetamine 64,36% tƣơng đƣơng 1,9036gam.

Cáo trạng số 273/QĐ/KSĐT ngày 27/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Phú H về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù

Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ, trả lại cho bị cáo H điện thoại và sim điện thoại di động do không liên quan đến việc phạm tội.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo H nói lời sau cùng: Trong thời gian tạm giam đến nay bị cáo rất ăn năn, hối hận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo sớm về gia đình, xã hội làm ngƣời công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Lê Phú H khai nhận sử dụng ma túy từ năm 2012. Ngày 18/4/2017 bị cáo mang theo 02 bịch nylong chứa ma túy đi tìm bạn tên C để sử dụng thì bị Công an phƣờng H lập biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang, qua giám định chất tinh thể màu trắng thu giữ từ bị cáo H có hàm lƣợng Methamphetamine 1,9036gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại i u

ộ u t H nh s n m

s a i sun n m

qu nh:

1. N ười nào tàn trữ v n chu ển mua án trái phép hoặc chiếm oạt chất ma tú th phạt tù từ hai n m ến ả n m .

Nhƣ vậy, với việc vận chuyển ma túy (1,9036gam Methamphetamine). Hành vi trên của bị cáo Lê Phú H là hành vi của tội Vận chuyển trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 273/QĐ-KSĐT ngày 27/9/2017 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Lê Phú H thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng, hiện nay hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến phức tạp, là nguyên nhân dẫn đến tội phạm hình sự gia tăng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo H mức án tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên đƣợc quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu thể hiện việc bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo đã bị đƣa đi cai nghiện bắt buộc thời gian 2 năm về việc sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi hòa nhập cộng đồng bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy thể hiện sự không hƣớng thiện của bản thân cũng nhƣ việc chấp hành pháp luật của bị cáo.

Về vật chứng: Qua điều tra thu giữ ma túy còn lại sau giám định của bị cáo H, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2610 và sim điện thoại số 0981.170.900 do không liên quan đến việc phạm tội, do vậy, trả lại cho bị cáo H.

Đối với ngƣời tên T bán ma túy cho bị cáo H. Công an thị xã Dĩ An tách xác minh xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo H cũng nhƣ việc xử lý vật chứng trong vụ án. Quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Phú H phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Lê Phú H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 74, Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đã đƣợc Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng niêm phong lại bên trong chứa tinh thể màu trắng có Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trọng lƣợng 2,2309gam (M2), số 212/MT-PC54.

Trả lại bị cáo Lê Phú H 01 (một) điện thoại di động màu đen - trắng trên điện thoại có chữ Nokia 2610, số sim điện thoại 0918.170.900, số Imei 368200/80/44890419.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/9/2017.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Lê Phú H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ