vanban.org

Bản án 285/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo La Thanh A 13 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo La Thanh A chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 14 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù T từ ngày 07-4-2024.

Nguyễn Mạnh D1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 08 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Mạnh D1 chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 12 năm 08 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 07-4-2024. Bùi Đức L1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo La Thanh A 13 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo La Thanh A chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 14 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù T từ ngày 07-4-2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI
HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 285/2025/HS-PT
Ngày 12-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tất Nam;

Các Thẩm phán: ông Hoàng Mạnh Hùng;

ông Thái Duy Nhiệm.

- Thư ký phiên toà: ông L1 Hải Anh - Thư kí Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại các điểm cầu trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2025/TLHS-PT ngày 21 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo La Thanh A và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 11-6-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Bị cáo kháng cáo:

1. La Thanh A sinh ngày 14-10-1997; nơi ĐKHKTT: thôn C, xã X, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới T: Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông La Văn G và bà La Thị H; có vợ là Lê Kiều M và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 07-4-2024; có mặt.

2. Nguyễn Mạnh D sinh ngày 31-12-2000; nơi ĐKHKTT: phường P, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới T: Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: sinh viên; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Minh P; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 07-4-2024; có mặt.

3. Bùi Đức L sinh ngày 25-9-2000; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường C, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới T: Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Bùi Văn L và bà Trương Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 07-4-2024; có mặt.

4. Lường Sơn Đ sinh ngày 24-10-2001; nơi ĐKHKTT: thôn L, xã C, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới T: Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lường Văn C và bà Triệu Thị P; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 07-4-2024; có mặt.

5. Âu Hoàng G sinh ngày 13-01-2001; nơi ĐKHKTT: xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Chí; giới T: Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Âu Văn A và bà Hoàng Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 07-4-2024; có mặt.

- Người bào chữa cho 05 bị cáo: các Luật sư Bùi Văn L và Nguyễn Văn T

- Văn phòng Luật sư T, Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

- Bị hại không kháng cáo: các anh Lê Minh H; Hứa Thanh S; Trần Quang Đ2; Ngô Sơn Đ3; Liêu Văn T và Nông Đức D2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tháng 3/2023, La Thanh An cùng Bùi Đức L1, anh Bùi Xuân Việt và anh Dương Bá L2 thành lập Công ty TNHH và công nghệ AOA (Công ty AOA); có trụ sở tại số nhà 50, tổ 05, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên do La Thanh An làm Chủ tịch Hội đồng thành viên; Công ty AOA thành lập Văn phòng đại diện SOK, đặt tại nhà của bà Vũ Thị An, ngõ 52, tổ 08, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên do Dương Bá L2 làm đại diện.

Khoảng tháng 02/2024, mở rộng hoạt động kinh doanh của Công ty, La Thanh An thuê nhà tại đường L, phường T, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên của bà Lê Thị H và tuyển dụng khoảng 20 nhân viên để làm công việc khai thác Token game Pixels (làm nhiệm vụ trong game để được trả thưởng bằng đồng Pixel); A làm quản lý chung, Nguyễn Mạnh D1 quản lý nhân sự. Trong 20 nhân viên đó có: Lường Sơn Đ1; Âu Hoàng G; Lê Minh H sinh năm 2001, trú tại xóm Chính Phú 02, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (thử việc); Hứa Thanh S sinh năm 2001, trú tại xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Trần Quang Đ2 sinh năm 2001, trú tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Ngô Sơn Đ3 sinh năm 2001, trú tại phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Liêu Văn T sinh năm 2001, trú tại xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nông Đức D2 sinh năm 2001, trú tại xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Khi được tuyển dụng làm việc chính thức các nhân viên phải ký Bản thỏa thuận: Bên A là Công ty AOA, bên B là các nhân viên, nội dung: ... Về bảo mật thông tin: không sử dụng thông tin bảo mật mà bên A đã cung cấp nhằm phục vụ cho mục đích khác ngoài nội dung dự án hai bên thực hiện; không được sao chép, cung cấp một phần hay toàn bộ thông tin bảo mật cho bất kỳ bên thứ ba nào biết khi chưa có sự chấp thuận bằng văn bản của bên có quyền sở hữu đối với thông tin bảo mật; cam kết không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của bên A trong quá trình thực hiện dự án theo quy định của pháp luật; cung cấp danh sách những người liên quan được phép nắm giữ thông tin bảo mật, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thực hiện dự án; đồng thời cam kết Đ2 bảo những người này sẽ không tiết lộ thông tin bảo mật cho bất kỳ bên thứ ba nào khác, được sự chấp thuận bằng văn bản của cả hai bên. Về cam kết của bên B: trong quá trình thực hiện, nếu bên B vi phạm sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bên A theo quy định của pháp luật, đồng thời cam kết phải trả thêm cho bên A một khoản tiền phạt vi phạm tương đương 400 triệu đồng.

Từ ngày 01/4/2024 đến ngày 03/4/2024, Lê Minh H, Liêu Văn T, Trần Quang Đ2, Ngô S Đ3, Nông Đức D2 và Hứa Thanh S xin nghỉ việc.

Khoảng 21 giờ ngày 03/4/2024, A phát hiện Lê Minh H lấy tiền Pixel trong tài khoản ví Ronin nên rủ D1, L1 và Đ1 đến chỗ ở của H tại tổ 10, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên để đòi lại tiền. A điều khiển xe mô tô của mình biển số 97B1-904.48 chở L1, D1 điều khiển xe mô tô biển số 20 D1-177.27 của anh Nông Đức T sinh năm 2000, trú tại xóm xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên chở Đ1, khi đến A hỏi H về việc có lấy trộm tiền trong ví Ronin nhưng H không nhận, A yêu cầu H mở điện thoại để kiểm tra nhưng H không đồng ý, do sợ bố mẹ H biết nên A đẩy H sang ngõ đối diện rồi cùng Đ1, D1 và L1 dùng chân tay đánh H, An túm tóc H kéo H ngã xuống đất rồi dùng đầu gối bên phải lên gối 02 - 03 cái vào mặt của H; Đ1, D1 và L1 dùng tay, chân đánh đá vào người, mặt H; bị đánh H hô “Giết người rồi” thì nhóm của An dừng lại. Do sợ có người biết nên A bảo với D1, L1, Đ1 “Đưa lên xe”; L1, Đ1 giữ tay khống chế H lên xe do A điều khiển (H ngồi giữa, L1 ngồi sau, hai tay L1 giữ hai tay của H); còn D1 và Đ1 chở nhau đi cùng một xe; A điều khiển xe chở H đi khoảng 02 km, đến bãi đất trống khu vực cổng tam quan thì cả nhóm dừng lại, A yêu cầu H trả tiền nhưng H không nhận và nói “Tao đéo lấy tao đéo trả” thì Đ1 dùng chân đá vào sườn bên trái của H, A tiếp tục hỏi nhưng H không nhận nên L1 dùng chân trái đá vào sườn bên trái của H, Đ1 bắt H quỳ xuống nói chuyện, A dùng tay tát vào mặt H, lúc này H mới thừa nhận việc rút tiền trong ví Ronin; A bắt H phải trả tiền thì H bảo đã xóa App và ví thì D1 lấy điện thoại của H thao tác mở khóa màn hình rồi tải lại App, A kiểm tra thấy địa chỉ bị mất tiền và địa chỉ rút tiền trong máy H trùng khớp nhau, H cầm điện thoại của H đăng nhập tài khoản ví rồi D1 và A chuyển hết tiền sang tài khoản ví Mexc của A (508 đồng Pixel, trong đó A có 166,9 đồng Pixel bị H lấy). Sau đó, A kiểm tra tin nhắn trong điện thoại của H thấy có đoạn tin nhắn giữa H và S liên quan đến 02 địa chỉ ví điện tử Ronin của công ty nên bảo H gọi S sáng hôm sau lên công ty nói chuyện rồi A và D1, Đ1, L1 lên xe về.

Khoảng 08 giờ ngày 04/4/2024, H và S đến chỗ làm của A tại phường T, thành phố Thái Nguyên; A hỏi S có lấy trộm tiền không thì S không nhận nên Đ1 dùng chân đá vào người và bắt S quỳ xuống đất để nói chuyện, D1 đi vòng ra sau lưng S và dùng chân đá 01 phát vào sườn của S làm S ngã ra đất, sau đó S ngồi dậy và tiếp tục quỳ thì Âu Hoàng G sinh năm 2001, trú tại xóm Thịnh Mỹ, xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa dùng chân tay không đấm đánh vào lưng, đầu S thì S thừa nhận lấy tiền của A. Cho rằng S vi phạm Bản thỏa thuận đã ký trước khi vào làm việc chính thức nên A bảo D1 mang giấy rồi A bắt S phải viết giấy xác nhận nợ số tiền 400.000.000 đồng nhưng S không viết thì L1 dùng chân đá khoảng 01- 02 cái vào người S, A quát “Mày có viết không” thì S viết giấy nhận nợ 400.000.000 đồng. D1 kiểm tra điện thoại của S thì thấy S có nói chuyện với Đ2, Đ3 về kế hoạch, cách thức làm kiếm tiền để ra làm riêng nên D1 yêu cầu S gọi điện thoại cho Đ2 và Đ3 đến.

Khoảng 20 phút sau Đ2 và Đ3 đến, A hỏi nhưng Đ2 và Đ3 không nhận nên A và Đ1, G đánh Đ2 và Đ3, bắt hai người quỳ ở sân, sau đó D1 kiểm tra điện thoại của Đ2 và Đ3 thấy có thêm T và D2 tham gia làm cùng nên D1 bắt Đ2 gọi T và D2 đến. Khoảng 30 phút sau T và D2 đến, A hỏi nhưng T và D2 không nhận nên A và Đ1, G, L1 đánh T và D2; A dùng chân đạp vào ngực T và D2, rồi dùng đầu gối chân phải lên gối vào ngực T và D2; tiếp đó, A cầm đoạn gậy inox dài khoảng 01 m vụt vào lưng của T; Đ1 cầm gậy bóng chày màu đen đánh vào người D2; sau đó cho rằng Đ2, Đ3, T và D2 vi phạm Bản thỏa thuận đã ký trước khi vào làm việc chính thức nên A bảo D1 lấy giấy bút cho Đ2, Đ3, T và D2 viết giấy xác nhận nợ mỗi người là 400.000.000 đồng và A bắt S viết giấy bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, biển số 20AE-041.15, A giữ giấy đăng ký và chiếc xe mô tô của S; sau đó A yêu cầu H, S, Đ2, Đ3, T và D2 về chuẩn bị quần áo đến công ty ở lại làm việc để trừ nợ. Chiều ngày 04/4/2024, Lê Minh H và Hứa Thanh S đến Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trình báo sự việc.

Cơ quan điều tra tiến hành lập Biên bản sự việc, xác định hiện trường tại: đường ngõ 26, đường Tân Thịnh thuộc tổ 10, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bãi đất trống cạnh đường Bắc S kéo dài, thuộc tổ 02, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nhà của La Thành A thuê thuộc tổ 07, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và xác định vị trí từ ngõ 26, đường Tân Thịnh thuộc tổ 10, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đến vị trí bãi đất trống cạnh đường Bắc S kéo dài, thuộc tổ 02, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là khoảng 02km.

La Thanh A giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, biển số 20AE-041.15; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 20AE-041.15 mang tên Hứa Thanh S; 01 Hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 20AE-041.15 đề ngày 04/4/2024, người bán Hứa Thanh S; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu đen-bạc, biển số 97B1-904.48; 05 bản thỏa thuận giữa Công ty AOA với Hứa Thanh S, Trần Quang Đ2, Nông Đức D2, Ngô S Đ3, Liêu Văn T; 04 đơn xin nghỉ việc của Trần Quang Đ2, Nông Đức D2, Ngô S Đ3, Liêu Văn T; 05 giấy đề nghị tạm ứng của Hứa Thanh S, Trần Quang Đ2, Nông Đức D2, Ngô S Đ3, Liêu Văn T. 05 giấy xác nhận nợ của: Hứa Thanh S (ghi ngày 04/4/2024, số tiền 400.000.000 đ), Trần Quang Đ2 (không ghi ngày, ghi số tiền 400.000.000 đ), Ngô S Đ3 (không ghi ngày, ghi số tiền 400.000.000đ), Liêu Văn T (không ghi ngày, số tiền), Nông Đức D2 (không ghi ngày, số tiền); 01 giấy chứng nhận đăng ký văn phòng đại diện; 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 bản tường trình của Lê Minh H; 01 gậy Inox dài 93 cm, đường kính 02cm; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax vỏ màu đen, niêm phong ký hiệu A1. 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu đen, niêm phong ký hiệu A2.

Nguyễn Mạnh D1 giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen-trắng-đỏ, biển số 20D1-177.27. Bà Trần Minh Phượng mẹ của Nguyễn Mạnh D1 giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 11, niêm phong ký hiệu “ĐT D1”.

Lường S Đ1 giao nộp 01 gậy bóng chày màu đen, dài 70 cm.

Kiểm tra hệ thống máy T tại nhà của La Thanh A thuê thuộc tổ 07, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện: 21 máy T đang hoạt động đăng nhập vào đường link “Play.Pixels.Xyz” để chơi game “Pixels” trả thưởng bằng tiền “Pixel”, sau đó quy đổi về tiền Việt Nam đồng thông qua các sàn giao dịch tiền ảo “Binance”, “Ronin”, “Mexc” và xác định chơi game “Pixels” không có đặt cược, được thua bằng tiền. Kiểm tra tài khoản game “Pixels” của Công ty AOA xác định ngày 03/4/2024 bị rút 166.9 Pixel (do Lê Minh H thực hiện).

Kiểm tra điện thoại do La Thanh A giao nộp: chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax vỏ màu đen, phát hiện: Tại mục ảnh và video phát hiện 01 ảnh giao dịch A chuyển 508 đồng Pixel từ tài khoản ví của Lê Minh H sang tài khoản ví của A; tại ứng dụng Telegam phát hiện: tin nhắn ngày 03/4/2024, có đoạn video ghi lại việc tra hỏi H về việc H lấy trộm tiền Pixel do tài khoản có tên “Bùi Đức L1” có số điện thoại 0972.787.450 gửi đến; tin nhắn ngày 04/4/2024, trao đổi với tài khoản có tên “Mạnh D1” có số điện thoại 0332.231.225, A bảo D1 in giấy nhận nợ để cho S viết; chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu đen, không phát hiện nội dung liên quan đến vụ án.

Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 11 của Nguyễn Mạnh D1, tại mục ảnh và video phát hiện 08 đoạn video, trong đó có: 06 đoạn liên quan đến việc bắt Lê Minh H quỳ, tra hỏi H việc lấy tiền Pixel của Công ty AOA và H nhắn tin cho Hứa Thanh S tại bãi đất trống thuộc tổ 02, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; 02 đoạn liên quan đến việc kiểm tra điện thoại của S và Trần Quang Đ2 tại sân Công ty AOA thuộc tổ 07, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiếu trả lời xác minh ngày 17/7/2024 của Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xác định: xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, biển số 20AE-041.15, chủ sở hữu Hứa Thanh S, trú tại Rừng Vầu, La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu đen-bạc, biển số 97B1-904.xx, chủ sở hữu Hoàng Văn K, trú tại B, Bắc Kạn. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen-trắng-đỏ, biển số 20D1-177.xx, chủ sở hữu Nông Đức T, trú tại V, Thái Nguyên.

Tại Thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng ngày 03/12/2024 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, xác định: xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, biển số 20AE-041.15. Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu đen-trắng-đỏ, biển số 20D1-177.27. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu đen-bạc, biển số 97B1-904.48. Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Tại Bệnh án của Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên, xác định: Lê Minh H, Hứa Thanh S vào viện ngày 05/4/2024, ra viện ngày 09/4/2024. Dấu hiệu đa chấn thương chưa xác định. Kiểm tra dấu vết trên thân thể, xác định: Trần Quang Đ2 bị 01 vết bầm tím kích thước (04 x 02)cm tại vùng 1/3 lưng dưới, giữa cột sống (khoang D11, D12); 01 vết bầm tím kích thước (05 x 05) cm tại vị trí 1/3 trên mặt cẳng tay trái. Liêu Văn T bị: 01 vùng bầm tím kích thước (05 x 02) cm tại 1/2 dưới mặt ngoài cánh tay phải. Ngô S Đ3 và Nông Đức D2 không phát hiện gì.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 83 ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, biển số 20AE-041.15 có giá trị là 10.000.000 đồng.

Tại các bản Kết luật giám định tổn thương cơ thể trên người sống các số: 520 ngày 15/7/2024; 521 ngày 11/7/2024; 724, 725, 726, 727 ngày 01/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thái Nguyên, kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của: Hứa Thanh S, Lê Minh H, Liêu Văn T, Nông Đức D2, Trần Quang Đ2, Ngô S Đ3, tại thời điểm giám định là 0%.

Tại công văn số 1027 ngày 03/10/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên, xác định: hiện nay, theo các quy định của pháp luật hiện hành về tiền tệ và ngân hàng như: Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010, Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL - UBTVQH11 ngày 13/12/2005, Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18/3/2013 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối, Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 quy định về thanh toán không dùng tiền mặt thì đồng Pixel không phải là tiền tệ, không được phép lưu hành và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam.

Tại công văn số 5394 ngày 23/12/2024 của Sở Tài chính tỉnh Thái Nguyên, xác định: tại văn bản trả lời của Ngân hàng nhà nước Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên số 1027 ngày 03/10/2024 có nội dung: theo quy định của pháp luật hiện hành về tiền tệ và ngân hàng thì đồng Pixel không phải là tiền tệ, không được phép lưu hành và không phải phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Tại điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản, trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Sở Tài chính từ chối thành lập Hội đồng định giá theo đề nghị của CQCSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên.

Tại Biên bản xác minh ngày 03/12/2024, Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên, cung cấp và xác định: Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và công nghệ AOA đã đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định (không có mã ngành nghề kinh doanh khai thác tiền điện tử). Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật chưa có quy định về ngành nghề kinh doanh khai thác tiền điện tử nói chung, tiền Token game Pixel nói riêng; do đó chưa có căn cứ để xác định Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và công nghệ AOA có được phép kinh doanh khai thác đồng Token game Pixel hay không và hình thức kinh doanh tiền có vi phạm pháp luật không.

Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo và gia Đ1 tự nguyện bồi thường, khắc phục H quả cho các bị hại Lê Minh H, Hứa Thanh S mỗi người 20.000.000 đồng. Các bị hại Trần Quang Đ2, Ngô S Đ3, Liêu Văn T và Nông Đức D2 không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 11-6-2025, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; khoản 1 Điều 157 (không áp dụng đối với bị cáo Âu Hoàng G); các điểm b và s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự; xử phạt:

- Bị cáo La Thanh A 13 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt bị cáo La Thanh A phải chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 14 năm tù.

- Nguyễn Mạnh D1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 08 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D1 phải chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 12 năm 08 tháng tù.

- Bùi Đức L1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 06 tháng tù vè tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt bị cáo Bùi Đức L1 phải chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 12 năm 06 tháng tù.

- Lường S Đ1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 06 tháng tù vè tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt bị cáo Lường S Đ1 phải chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 12 năm 06 tháng tù.

- Bị cáo Âu Hoàng G 12 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về việc xử lí vật chứng và án phí theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo La Thanh A, Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đức L1, Lường S Đ1 và Âu Hoàng G kháng cáo đều với nội dung xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận các hình vi phạm tội đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho các bị cáo. Trong đó các bị cáo A, D1, L1 và Đ1 xin giảm hình phạt đối với 2 tội.

- Ý kiến Kiểm sát viên: Tòa án cáp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án và nhân thân các bị cáo, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối các bị cáo là có căn cứ. Không có căn cứ giảm hình phạt cho các bị cáo.

Luật sư đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Khoảng 22 giờ ngày 03/4/2024, tại khu vực tổ 10, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; La Thanh A cho rằng anh Lê Minh H lấy tiền Pixel trong tài khoản ví RONIN của mình nên đã cùng Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đức L1, Lường S Đ1 đánh, bắt H lên xe mô tô đi khoảng 02 km, đến bãi đất trống khu vực thuộc tổ 02, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên rồi tiếp tục đánh anh H.

Ngoài ra, khoảng 09 giờ ngày 04/4/2024, tại Công ty AOA thuộc tổ 07, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; La Thanh A cho rằng các anh: Hứa Thanh S, Trần Quang Đ2, Ngô S Đ3, Liêu Văn T, Nông Đức D2 vi phạm thỏa thuận và cam kết khi vào làm việc nên đã cùng Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đức L1, Lường S Đ1, Âu Hoàng G đánh các anh S, Đ2, Đ3, T, D2; buộc các anh S, Đ2, Đ3, T, D2 viết giấy xác nhận nợ; trong đó Hứa Thanh S phải viết giấy nhận nợ số tiền 400.000.000 đồng; anh Trần Quang Đ2 viết giấy nhận nợ số tiền 400.000.000 đồng; anh Ngô Sơn Đ3 viết giấy nhận nợ số tiền 400.000.000 đồng; các anh Liêu Văn T, Nông Đức D2 viết giấy nhận nợ nhưng không ghi số tiền; do biết anh S có chiếc xe mô tô nhãn nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, biển số 20AE-041.xx nên A đã bắt anh S viết giấy bán chiếc xe có giá trị là 10.000.000 đồng để trừ nợ.

Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo La Thanh A, Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đức L1, Lường S Đ1 và Âu Hoàng G về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 và kết án các bị cáo La Thanh A, Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đức L1 và Lường S Đ1 về tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Đối với tội “Cướp tài sản”: hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã chủ động bồi thường khắc phục H quả; thân nhân gia Đ1 bị cáo, ông bà được tặng thưởng Huân, Huy chương, bị hại đề nghị giảm hình phạt cho các bị cáo. Trong hành vi cướp tài sản, bị cáo A là người khởi xướng, giữ vai trò chính; các bị cáo D1, L1, Đ1 và G đồng phạm nên về cơ bản có vai trò, mức độ phạm tội ngang nhau. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án, vai trò, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo kết án các bị cáo D1, L1, Đ1, G mỗi bị cáo 12 năm tù và kết án bị cáo A 13 năm tù là có căn cứ.

Đối với tội “Bắt người trái pháp luật”: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án, nguyên nhân, mức độ phạm tội của các bị cáo kết án bị cáo A 01 năm tù, bị cáo D1 08 tháng tù và các bị cáo L1, Đ1 mỗi bị cáo 06 tháng tù là đúng pháp luật.

Không có căn cứ giảm hình phạt cho các bị cáo.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

. Các bị cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo La Thanh A, Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đức L1, Lường S Đ1 và Âu Hoàng G và giữ nguyên Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 11-6-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên như sau: áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; khoản 1 Điều 157 (không áp dụng Điều 157 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Âu Hoàng G); các điểm b và s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự; xử phạt:

- Bị cáo La Thanh A 13 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo La Thanh A chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 14 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù T từ ngày 07-4-2024.

- Nguyễn Mạnh D1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 08 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Mạnh D1 chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 12 năm 08 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 07-4-2024.

- Bùi Đức L1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 06 tháng tù vè tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Đức L1 chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 12 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 07-4-2024.

- Lường S Đ1 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 06 tháng tù vè tội “Bắt người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lường S Đ1 chấp hành hình phạt chung của 2 tội là 12 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 07-4-2024.

- Bị cáo Âu Hoàng G 12 năm tù về tội “Cướp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 07-4-2024.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

3. Các bị cáo La Thanh A, Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đức L1, Lường S Đ1 và Âu Hoàng G mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ