- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C ly hon giua chi H va anh Th"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Công Th.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT TH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 285/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/12/2023 V/v: Ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Mai
- Ông Bùi Đăng Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sáng; Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Th phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lưu Mạnh Hùng, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên Tòa số 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã Tiến X, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Công Th, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã Tiến X, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2023 cùng các bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Hoàng Công Th có thời gian tìm hiểu khoảng 02 tháng thì kết hôn, tổ chức cưới ngày 12/01/2015. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiến X, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Th không tu chí làm ăn, thường xuyên đánh đập, chửi mắng chị. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th.
Về con chung: Chị và anh Th có 02 con chung là Cháu Hoàng Công T, sinh ngày 16/3/2016 và cháu Hoàng Nguyễn Công Đ, sinh ngày 22/10/2017. Hiện tại cháu T và cháu Đ đang ở với anh Th. Nguyện vọng của chị là xin nuôi cháu Đ, anh Th nuôi cháu T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải ngày 27/10/2023 bị đơn là anh Hoàng Công Th trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H có thời gian tìm hiểu khoảng 02 tháng thì kết hôn, tổ chức cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiến X, huyện Thạch Thất vào ngày 06/01/2015. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian 5 năm thì mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh đi làm về hay uống rượu với bạn bè và khi về nhà có hay nói vợ và đánh vợ. Anh và chị Hà đã sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Nay chị Hà có đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên đề nghị tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ, nuôi các con.
Về con chung: Anh và chị Hà có 02 con chung là cháu Hoàng Công T, sinh ngày 16/3/2016 và cháu Hoàng Nguyễn Công Đ, sinh ngày 22/10/2017. Hiện tại các cháu đang ở với anh, nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì nguyện vọng của anh là xin được nuôi dưỡng cả hai cháu, anh không yêu cầu chị Hà cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như trên. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Tại bản tự khai ngày 17/11/2023, con chung của chị Hà, anh Th là cháu Hoàng Công T trình bày: Nguyện vọng của cháu là muốn được ở cùng bố là anh Th.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Việc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Việc xác định quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo, việc chuyển hồ sơ, cấp tống Đ, niêm yết văn bản tố tụng đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền giải quyết: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu giải quyết quan hệ: Ly hôn. Bị đơn cư trú trên địa bàn huyện Thạch Thất, Th phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1.2. Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn là anh Hoàng Công Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa ngày 06/12/2023, Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2023. Quyết định này đã được tống Đ hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, anh Th tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.)
Về nội dung:
2.1. Về tính hợp pháp của hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Công Th có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Tiến X, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội vào ngày 06/01/2015, do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Hà và anh Th được xác định là hôn nhân hợp pháp.
2.2. Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hiện tại đang sống ly thân.
Nguyên nhân, theo chị Hà trình bày là do anh Th không tu chí làm ăn, thường xuyên đánh đập, chửi mắng chị. Anh Th cũng thừa nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh hay uống rượu với bạn bè, khi về nhà có hay chửi mắng và đánh chị Hà. Chị Hà, anh Th đã sống ly thân từ tháng 03/2023 đến nay, chị Hà xác định không còn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không Đ được. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
2.3. Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Hoàng Công T, sinh ngày 16/3/2016 và cháu Hoàng Nguyễn Công Đ, sinh ngày 22/10/2017. Hiện tại cháu T và cháu Đ đang ở với anh Th.
Nguyện vọng của chị Hà là xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ, anh Th tiếp tục nuôi dưỡng cháu T. Nguyện vọng của anh Th là xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Nguyện vọng của con chung cháu T là xin được ở với anh Th. Xét nguyện vọng của cháu T, chị Hà, anh Th và khả năng nuôi dưỡng con chung của chị Hà, anh Th, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX thấy rằng cần giao cháu Hoàng Công T cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Hoàng Nguyễn Công Đ cho chị Hà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo được quyền lợi của các con chung. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hà, anh Th đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hà, anh Th cho đến khi có quyết định khác thay thế.
2.4. Về tài sản chung, công nợ chung: chị Hà và anh Th xác định không có tài sản chung và công nợ chung nên HĐXX không xem xét.
2.5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 245, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Công Th.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Công T, sinh ngày 16/3/2016 cho anh Hoàng Công Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Hoàng Nguyễn Công Đ, sinh ngày 22/10/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hà, anh Th đến khi có quyết định khác thay thế.
Chị Hà, anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0032184 ngày 12 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thất, Th phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống Đ hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Th phố Hà Nội; - VKSND huyện Thạch Thất; - Chi cục THADS huyện Thạch Thất; - UBND xã Tiến X, huyện Thạch Thất; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Ninh |