- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Vũ M và Nguyễn Ngọc V đều phạm tội “Trộm cắp T sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 285/2021/HSST Ngày: 08/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quang;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huệ và bà Nguyễn Thị Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Trung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phong Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 288/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 297/2021/QĐXXST-HS ngày 25/11/2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Vũ M, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn Cao Trung, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Nguyễn Vũ D (đã chết); con bà Trịnh Thị V, sinh năm 1960.
Tiền án: Bản án số 77/2018/HSST ngày 30/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt 17 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Ngày 28/6/2021 Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Bản án số 40/2009/HSST ngày 29/5/2009, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp T sản.
Bản án số 113/2011/HSST ngày 17/5/2011, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 50 tháng tù về tội Cướp giật T sản.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/7/2021 và hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Số 1 Công an thành phố Hà Nội - có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn Nhuệ, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Nguyễn Ngọc C (đã chết); con bà Vũ Thị D, sinh năm 1948; có vợ là Phạm Thị Quỳnh A (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015. Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 77/2018/HSST ngày 30/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Bản án số 49/2009/HSST ngày 31/8/2009, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Ngày 31/10/2017 Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp T sản.
Ngày 16/4/2012 Đồn công an Số 18, Công an thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp T sản.
Ngày 30/8/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh (do nghiện ma túy).
Ngày 25/12/2008 Công an xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp T sản.
Ngày 30/6/2006 bị Ủy ban nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh (do nghiện ma túy).
Bị cáo đầu thú ngày 01/10/2021 và hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Số 1 Công an thành phố Hà Nội; có mặt.
Bị hại: Anh Trần Tiến T, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ dân phố Số 5, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 03/7/2021, Nguyễn Ngọc V điểu khiển xe máy Honda Wave BKS 29L5-275.40 chở Nguyễn Vũ M đi lang thang xem ai sơ hở trong quản lý T sản để trộm cắp. Khi cả hai đến khu vực ngõ 326 đường Bờ Tây Sông Nhuệ, tổ dân phố Số 5, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thì phát hiện 01 con chó cái màu lông đen vàng của anh Trần Tiến T đang đứng trước cổng. V điều khiển xe máy lại gần con chó, còn M ngồi phía sau xe sử dụng dây thòng lọng luồn vào cổ con chó kéo đi vài mét thì M nhảy xuống ôm con chó lên xe để V phóng xe đi. Khi cả hai đi được một đoạn thì anh Trần Tiến T đi làm về thấy M đang ôm con chó của mình nên đuổi theo đến Học viện cảnh sát nhân dân thì M phát hiện và thả con chó xuống, anh T đuổi theo và ép xe của V vào lề đường và cùng nhân dân bắt giữ M và V. Khi anh T và V đi tìm được chó thì V đã bỏ trốn, M được giao cho Công an phường Cổ Nhuế 2. Vật chứng thu giữ: 01 con chó cái màu lông vàng trọng lượng 17kg; 01 xe máy Honda Wave BKS 29L5-275.40, 01 que gậy dài khoảng 1m gắn dây thòng lọng một đầu gậy.
Kết luận định giá T sản số 285 ngày 07/7/2021, Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm kết luận: 01 con chó màu lông đen, vàng, giống chó cái nặng 17kilogam trị giá 2.890.000 đồng.
Quá trình điều tra V trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã quyết định truy nã, đến ngày 01/10/2021 V đầu thú. Tại cơ quan điều tra, V và M đều khai nhận hành vi như trên. Đối với con chó, quá trình điều tra đã trả lại anh T. Anh T đã nhận lại T sản và không yêu cầu đề nghị gì. Đối với chiếc xe máy Honda Wave BKS 29L5-275.40 mang tên anh Đặng Ngọc Hưng, anh Hưng đã bán cho anh Nguyễn Văn Tiến, anh Tiến bán cho Nguyễn Ngọc V nhưng không làm giấy tờ mua bán. Kết quả tra cứu xe không có trong giữ liệu xe máy vật chứng.
Bản cáo trạng số 274/CT-VKSBTL ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ M và Nguyễn Ngọc V đều về tội “Trộm cắp T sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo M và V khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo M và V theo nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo V; đề nghị xử phạt M từ 16 tháng đến 20 tháng tù, V từ 14 tháng đến 18 tháng tù; trách nhiệm dân sự: Không; vật chứng đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước xe máy Honda Wave BKS 29L5-275.40, tịch thu tiêu hủy 01 que gậy; không phạt bổ sung các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá cùng các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 03/7/2021, tại khu vực ngõ 326 đường Bờ Tây Sông Nhuệ, tổ dân phố Số 5, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Nguyễn Ngọc V và Nguyễn Vũ M lợi dụng chủ sở hữu sơ hở trong việc quản lý T sản, V và M chiếm đoạt 01 con chó màu lông đen, vàng, giống chó cái nặng 17 kilogam trị giá 2.890.000 đồng của anh Trần Tiến T. Hành vi lén lút chiếm đoạt T sản của các bị cáo như trên đã phạm tội Trộm cắp T sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu T sản của người khác. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử và đã được giáo dục bằng pháp luật trong đó có những lần về hành vi chiếm đoạt nhưng không chịu cải tạo. Nay chỉ vì mục đích tư lợi, các bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, tiếp tục chiếm đoạt T sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng, bất bình trong nhân dân. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo để cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét đồng phạm trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo đồng phạm giản đơn, cùng nhau thực hiện tội phạm. Trong đó bị cáo M khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt nên M có vai trò cao hơn.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích lại cố ý phạm tội mới nên lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội, T sản chiếm đoạt không lớn và đã trả lại bị hại nên hành vi của các bị cáo gây thiệt hại không lớn. Vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo V sau khi phạm tội đã đầu thú nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại T sản, không có yêu cầu bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.
Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng-đen-bạc, BKS 29L5-275.40, số khung: RLHJA3906HY474408, số máy: JA39E0049486 là phương tiện dùng phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 que gậy dài khoảng 1m màu đen gắn dây thòng lọng một đầu gậy là phương tiện dùng phạm tội và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị hại và các bị cáo có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Vũ M;
- Khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc V.
- Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Vũ M và Nguyễn Ngọc V đều phạm tội “Trộm cắp T sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ M 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/7/2021.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc V 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2021.
3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Tiến T không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự.
4. Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng-đen-bạc, BKS 29L5-275.40, số khung:RLHJA3906HY474408, số máy: JA39E0049486 đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 que gậy dài khoảng 1m màu đen gắn dây thòng lọng một đầu gậy.
5. Án phí và quyền kháng cáo:
- Các bị cáo Nguyễn Vũ M và Nguyễn Ngọc V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. .
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Lưu HS – VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Văn Quang |