- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trình Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trình Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 285/2021/HS-ST Ngày 05 - 7 -2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Trần Thanh Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 299/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trình Văn C, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/8/1989; Nơi sinh: Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn 3, xã QH, thành phố SS, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trình Văn T, sinh năm 1968, con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; Vợ, con chưa có; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: 01 (Tại Bản án số 115/HSST/2016 ngày 15/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Trình Văn C bị xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2017. Bị cáo chưa nộp án phí HSST và DSST
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 05/5/2021 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2021 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1990 – ( có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: xóm CR, xã CN, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Dương H, sinh năm 1957 - (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Tổ 02, phường GS, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trình Văn C là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, thường xuyên đi lang thang trên địa bàn thành phố Thái Nguyên xem ai để sơ hở tài sản thì trộm cắp, mang đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/3/2021, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S110, màu đen, biển kiểm soát 29S1-051.47 đi đến khu vực xã CN, thành phố Thái Nguyên để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Hoàng Văn H (sinh năm 1990, trú tại xóm CR, xã CN, thành phố Thái Nguyên), C quan sát thấy nhà anh H không đóng cổng. C đi vào sân nhà anh H thấy không có ai ở nhà nên C để xe mô tô ở sân rồi đi vào trong nhà thấy 01 chiếc Ti vi 41 inches nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen để ở trên nóc tủ phòng khách. C liền đi đến vị trí để chiếc ti vi rồi rút ổ cắm điện và dây cắm AV ra khỏi Ti vi rồi dùng hai tay bê chiếc Ti vi để lên chiếc giường gần đó, lấy chăn màu đỏ chùm kín Tivi. Sau đó, C bê Ti vi ra sân để lên giá để hàng phía trước xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô chở Ti vi đi về khu vực Ga Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên. Tại đây, C lau Ti vi cho sạch bụi và mang đi bán cho ông Nguyễn Dương H (sinh năm 1957, trú tại tổ 02, phường GS, thành phố Thái Nguyên) với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Số tiền này C đã mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất chiếc Ti vi, anh H xem lại Camera của gia đình đã phát hiện C vào trộm cắp nên đã trình báo cơ quan Công an. Đến ngày 23/3/2021, C đang đi ở khu vực tổ 2, phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Đội cảnh sát hình sự Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện, kiểm tra và yêu cầu về trụ sở cơ quan công an để làm việc.
Ngày 23/3/2021, ông H biết chiếc Ti vi do C trộm cắp được mà có nên đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên để giải quyết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 85a/KLĐGTS ngày 24/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: Chiếc Tivi nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen mã sản phẩm: UA10J5000AK, kiểu sản phẩm UA10J5000 đã qua sử dụng của anh Hoàng Văn H có trị giá là 2.300.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 (Một) chiếc Ti vi nhãn hiệu Samsung, màu đen, 41 inches, mã sản phẩm: UA10J5000AK, kiểu sản phẩm UA10J5000 đã qua sử dụng hiện đã thu hồi được trả cho anh Hoàng Văn H quản lý sử dụng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S110 BKS 291- 05147, số máy 1778349; số khung 209398. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của Trình Văn C; 01 áo mưa trùm đầu, có hoa văn màu vàng; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu xanh.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H không có yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền ông mua chiếc Tivi của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 315/CT-VKSTPTN, ngày 31/5/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trình Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định việc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyêm tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trình Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trình Văn C từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh H đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không giải quyết.
Về vật chứng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S110 BKS 291- 05147, số máy 1778349; số khung 209398.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo mưa trùm đầu, có hoa văn màu vàng; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu xanh.
Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ do bị cáo phạm tội mà có.
- Đề nghị áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.
Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/3/2021 tại xóm CR, xã CN, thành phố Thái Nguyên, Trình Văn C đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc Tivi nhãn hiệu Samsung, màu đen 41 inches mã sản phẩm: UA10J5000AK, kiểu sản phẩm UA10J5000 đã qua sử dụng của anh Hoàng Văn H có trị giá 2.300.000 đồng, sau đó mang đến bán cho ông Nguyễn Dương H được 400.000 đồng. Hiện chiếc tivi đã được thu hồi trả lại cho bị hại.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trình Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, đặc điểm loại tài sản chiếm đoạt, biên bản định giá tài sản, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi của bị cáo được thực hiện một cách lén lút với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng, nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến ba năm”
...
Do đó, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo Trình Văn C có có nhân thân rất xấu, là đối tượng sống lang thang thường xuyên có hành vi trộm cắp tài sản.
Tuyn nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án số 115/HSST/2016 ngày 15/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo bị xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án này bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, sống lang thang, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo trộm cắp của anh Hoàng Văn H, anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc Ti vi bị cáo bán cho ông H, khi mua chiếc ti vi, ông H không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, khi biết chiếc Ti vi ông mua là tài sản trộm cắp, ông H đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra để trả cho bị hại. Về số tiền 400.000đ, ông H không yêu bị cáo trả số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng:
Đối với 01 áo mưa trùm đầu, có hoa văn màu vàng; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu xanh bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại Wave, BKS 29S1- 05147 màu đen xám, số máy 1778349; số khung 209398 bị cáo dùng phương tiện này để đi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Biện pháp tư pháp: Số tiền 400.000đ bị cáo bán chiếc ti vi cho ông H, bị cáo đã tiêu xài hết, ông H không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền này, do đó cần buộc bị cáo phải nộp Ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ do phạm tội mà có theo quy định tại Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự.
. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Trong vụ án này có ông Nguyễn Dương H là người đã mua chiếc Ti vi của C nhưng khi mua ông H không biết đó là tài sản do C phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xử lý đối với ông H là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trình Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự, xử phạt Trình Văn C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
3. Về Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Trình Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
4. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo mưa trùm đầu, có hoa văn màu vàng, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu xanh, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại Wave, BKS 29S1- 05147 màu đen xám, số máy 1778349; số khung 209398.
(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 459 ngày 21/6/2021 giữa cơ quan Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
5. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKSND TPTN; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TTG Công an tỉnh TN; - Công an TPTN; - Chi cục THADS TPTN; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - UBND xã QH, TP. SS, tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; Bị hại, NLQ; - Lưu: Hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ĐÃ KÝ Vũ Thị An |