- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 285/2020/HS-ST Ngày 28-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Ng Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Thúy Lan;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 254/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 249/2020/QĐXXST-HS ngày 26/6/2020; quyết định hoãn phiên tòa số :159/2020/QĐST-HS ngày 8 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Văn L, sinh năm 1997 tại tỉnh Ng; thƣờng trú: Xóm 4, xã Đ, huyện A, tỉnh Ng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn K, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; có 01 em sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2020 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại:
1. Anh L Thọ Ng, sinh ngày 04/7/2001; thƣờng trú: Thôn H, xã Th, huyện Th, tỉnh Th; tạm trú: Số 15/33 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B; vắng mặt.
2. Anh Trịnh Gia L, sinh năm 1998; thƣờng trú: Thôn H, xã Th, huyện Th, tỉnh Th; tạm trú: Số 15/33 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Xuân K, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 40/16 đƣờng X, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; thƣờng trú: Số 43/20 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Bùi Văn L; vắng mặt
2. Anh Ngô Văn Hùng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Trần Văn L là ngƣời không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 29/3/2020, Trần Văn L sang phòng trọ số 1B, số 15/33 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B gõ cửa để hỏi mƣợn điện thoại của anh Bùi Văn L chơi game nhƣng anh L không cho. Trần Văn L khép cửa đi ra ngoài gặp một ngƣời bạn tên là Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) đi ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong, Tuấn đi làm, Trần Văn L quay lại nhà trọ số 15/33 khu phố Bình Đƣờng 1, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An. Trần Văn L thấy cửa phòng trọ số 1B không đóng, anh Trịnh Gia L, Bùi Văn L, L Thọ Ng và Ngô Văn Hùng đang ngủ, phía trên đầu của anh Gia L có 01 cái điện thoại Oppo Reno 2F màu xanh của đang xạc và trên đầu của anh Ng có 01 chiếc điện thoại Redmi Note 8 màu đen. Trần Văn L lén lút đi vào phòng rút dây xạc điện thoại Redmi Note 8 bỏ vào túi quần bên phải, còn chiếc điện thoại Opporemo2F màu xanh thì cầm trên tay đi ra. Sau đó, Trần Văn L đến quán cafe thuộc khu phố Bình Đƣờng 1, phƣờng An Bình. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Trần Văn L gọi cho một ngƣời bạn tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch), nhờ Tuấn đi cầm dùm điện thoại Redmi Note 8. Khoảng 30 phút sau, Tuấn quay lại đƣa cho Trần Văn L 1.500.000 đồng. Trần Văn L đi cầm điện thoại Oppo Reno 2F tại tiệm cầm đồ Tuấn H, thuộc khu phố B, phƣờng A, thành phố D, giá 3.000.000 đồng. Số tiền cầm 02 chiếc điện thoại của Ng và Gia L là 4.500.000 đông, L đã tiêu xài hết.
Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 29/3/2020, anh Ng, anh Gia L phát hiện mất điện thoại nên báo chủ nhà trọ trích xuất camera thì phát hiện, L vào phòng mƣợn điện thoại lần đầu thì khoảng 10 phút sau L quay lại mở cửa đi vào phòng trọ 1B. Trên tay phải của Trần Văn L cầm chiếc điện thoại của anh Gia L. Đến tối cùng ngày, Trần Văn L về dãy trọ, anh Ng và anh Gia L hỏi thì Trần Văn L thừa nhận đã lấy 02 chiếc điện thoại. Nên bị đƣa Ln Công an phƣờng An Bình làm việc, L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F màu xanh.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 58/BB.ĐG ngày 06/4/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F màu xanh, có trị giá 4.000.000 đồng; điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 màu đen, có trị giá 2.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 6.500.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số 58/BB.ĐG ngày 06/4/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Tại cáo trạng số 292/CT – VKS ngày 18 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Văn L về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn L mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F màu xanh đã trả lại cho bị hại anh Trịnh Gia L. Anh L không có yêu cầu bồi thƣờng nên không đề nghị xử lý.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 màu đen của bị hại L Thọ Ng, không thu hồi đƣợc nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 2.500.000 đồng.
* Về biện pháp tƣ pháp: Chủ tiệm cầm đồ Tuấn H là anh Nguyễn Văn H không yêu cầu bị cáo L bồi thƣờng số tiền 3.000.000 đồng cầm điện thoại Oppo Reno 2F màu xanh, nhƣng đây là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Văn L từ việc phạm tội mà có nên đề nghị buộc bị cáo L nộp số tiền trên để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L không tranh luận, đối đáp gì, xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Vào 06 giờ ngày 29/3/2020 tại phòng trọ số 1B dãy trọ số 15 /33 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B. Trần Văn L lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F màu xanh trị giá 4.000.000 đồng của anh Trịnh Gia L và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 màu đen trị giá 2.500.000 đồng của anh L Thọ Ng; tổng trị giá tài sản là 6.500.000 đồng. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 292/CT – VKS ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn đồng thời sau khi phạm tội bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự và không có nghề nghiệp ổn định.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, đồng thời bị cáo là ngƣời không có nghề nghiệp ổn định, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tƣ pháp: Chủ tiệm cầm đồ Tuấn H là anh Nguyễn Văn H không yêu cầu bị cáo L bồi thƣờng số tiền 3.000.000 đồng cầm điện thoại Oppo Reno 2F màu xanh, nhƣng đây là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Văn L từ việc phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo L nộp số tiền trên để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
Về trách nhiệm dân sự:
- Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F màu xanh đã trả lại cho bị hại anh Trịnh Gia L. Anh L không có yêu cầu bồi thƣờng nên không đặt ra xem xét.
- Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 màu đen của bị hại L Thọ Ng, không thu hồi đƣợc nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 2.500.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đƣa ra đối với bị cáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự và biện pháp tƣ pháp là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2020.
2. Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Buộc bị cáo Trần Văn L nộp 3.000.000 (ba triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584 và 589 Bộ luật Dân sự.
Bị cáo Trần Văn L có trách bồi thƣờng cho anh Lê Thọ Ng số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày anh Lê Thọ Ng có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho anh Lê Thọ Ng khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ../.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Ng Công |