vanban.org

Bản án 285/2017/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/09/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Chấp nhận háng cáo của ông Nguyễn Văn X và ông Nguyễn Văn T. Sửa bản án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH Đ N TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 285/2017/DS-PT
Ngày 27-9-2017
V/v tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘN HÒA XÃ HỘI CHỦ N HĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH Đ N TH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Đinh Ch Tâm

Các Thẩm phán: ng Trần Phước Hội

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Ph m Thị Ng c Hà - Thư Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đ n Th p tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ng c Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2017 t i Trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2017/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2017 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2017/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện C bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 116/2017/QĐPT-DS ngày 01 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

- N uyên đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1968;

Bà Trần Thị H1, sinh năm 1977;

Chị Nguyễn Thị Yến H2, sinh năm 1997;

Người đ i diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Trần Thị H1.

Cùng địa ch : Số H, Tổ A, ấp T.H, xã T.N.Đ, huyện C, t nh Đ ng Tháp.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961;

Địa ch : Tổ A, ấp T.H, xã T.N.Đ, huyện C, t nh Đ ng Tháp.

Người đ i diện theo ủy quyền của ông T là ông Trần Thanh H3, sinh năm 1963;

Địa ch : Tổ B, Đường số C, Phường D, thành phố T.A, t nh L.

Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1963;

Địa ch : Tổ A, ấp T.H, xã T.N.Đ, huyện C, t nh Đ ng Tháp.

- N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Hoài H4, sinh năm 1985;

Địa ch : Tổ A, ấp T.H, xã T.N.Đ, huyện C, t nh Đ ng Tháp.

Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1971;

Địa ch : ấp T.T, xã T.N.Đ, huyện C, t nh Đ ng Tháp.

Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1973;

Địa ch : ấp T.H, xã T.N.Đ, huyện C, t nh Đ ng Tháp.

- Người háng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn X và bị đơn ông Nguyễn Văn T.

NỘI DUN VỤ ÁN:

- N uyên đơn ôn Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị N uyễn Thị Yến H2 trình bày:

Ngu n gốc tranh chấp đất trước ia của ông Nguyễn Văn T1 (là cha của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Văn H3) chết để l i cho ông X một phần đất tr ng cây lâu năm. Đất có diện tích 456m2, thuộc thửa số 293, tờ bản đ số 52 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BQ 679713, số vào sổ CH02612 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/01/2014 đất t a l c t i ấp T.H, xã T.N.Đ giáp ranh với đất ông Nguyễn Văn T. Từ trước đến nay ranh đất giữa hai bên có cắm trụ đá ranh hai đầu éo thẳng, hiện nay ông T xây dựng nhà lấn qua đất của ông X hoảng 1,4m đầu trong và 0,7m đầu ngoài giáp lộ giao thông, chiều dài giữa hai trụ đá là 20m, tổng diện tích khoảng 21m2. Nay bà H1 đ i diện ông X, chị H2 yêu cầu buộc ông T, bà L phải trả diện tích tranh chấp đo đ c thực tế trong ph m vi các mốc 1, 20, 2, 3, 9 diện t ch 159,6m2 để xác định l i ranh đất có vị tr tính từ mốc số 1 đến mốc số 20 thẳng ra mốc số 2.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Diện t ch đất 790m2, thửa 140, tờ bản đ số 52 là do ông T, bà L đứng tên quyền sử dụng đất ngày 31/12/2013 có ngu n gốc chuyển nhượng của ông N1, ông X vào năm 1981. Năm 1984 ông T xây dựng nhà t m trên đất này, ông T1 đứng ra ch vị tr cho ông T xây dựng nhà và các anh chị em trong gia đình không ai có ý kiến gì. Đến năm 2009 ông T, bà L xây dựng l i nhà đang hiện nay; lúc này ông T1 còn sống, ông T1 có cho ông T, bà L xây dựng nhà lấn qua phần đất của ông T1 để thuận theo dòng nước con sông. Tháng 8 năm 2013 ông T1 chết, đến tháng 12 ông X, ông N1, ông H3 mới đi đăng ý thừa ế đối với phần đất của ông T1 để l i cho các ông theo di chúc. Đất ông T1 cho ông T trước hi cho đất ông X; vì vậy theo ông T thì ranh đất của ông T với ông X là đường thẳng từ mốc số 1 đến mốc số 3 (là trụ đá) thẳng ra mốc số 2 cuối đất, theo sơ đ đo đ c đất thực tế. Ngoài ra thì sơ đ đo đ c trên thì phần đất thực tế của ông T có diện t ch t hơn so với diện tích mà ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trụ đá vị trí mốc số 3 trước đây là do ông T1 và em là ông Nguyễn Văn T3 tr ng cắm ranh; nhưng vào năm 2015 thì ông X tự đ p ngã do nói ông T lấn ranh nên ông T, ông X đã xác định ranh đất với nhau và ông X đã đổ bê tông để xác định ranh là từ mé cuối nhà ông T đến cuối nhà ông X; còn từ mí nhà của ông X ra trụ mốc số 2 thì ông T đắp bờ ngăn nước.

Nay ông X, bà H1, chị H2 xác định ranh đất là đường thẳng từ mốc số 1 đến mốc số 2 và yêu cầu ông T, bà L phải di dời nhà trả l i phần đất cho ông X thì ông T, bà L hông đ ng ý. Ông T, bà L cũng hông đ ng ý trả giá trị đối với phần đất trên vì đây là phần đất mà ông T1 đã cho ông T, bà L lúc ông T1 còn sống quản lý sử dụng đất này.

- N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N1 trình bày:

Ông N1 xác nhận vào năm 2009 ông X, ông N1, ông H3 có thỏa thuận chuyển nhượng l i phần đất của chị là bà Nguyễn Thị T2 trên diện tích 1.370m2 do bà T2 đứng tên quyền sử dụng đất, giá trị 2,1 lượng vàng 24k. Ông X, ông N1, ông H3 mỗi người trả cho bà T2 7 ch vàng 24 . Tuy nhiên lúc đó giữa ông N1, ông X, ông H3, bà T2 và ông T1 thỏa thuận là bà T2 sẽ chuyển cho ông T1 đứng tên quyền sử dụng đất phần đất trên và ông T1 sẽ làm di chúc để l i phần đất trên cho 3 người là ông X, ông N1, ông H3; hi đó còn ông T1 đứng ra và mời địa ch nh xã đến đo đ c cấm trụ đá xác định ranh cụ thể cho từng người. Nay ông X, bà H1 h i iện tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất với ông T thì ông N1 không có ý kiến gì và cũng hông có tranh chấp gì đối với phần đất tranh chấp này.

- N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3 trình bày:

Ông H3 hông có liên quan gì đến tranh chấp ranh đất giữa ông X với ông T. Ông H3 cũng hông có iến gì phần đất tranh chấp này.

- N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoài H4 trình bày:

Anh H4 không có ý kiến gì và yêu cầu gì phần đất tranh chấp này.

B n n d n s sơ thẩm

DS-ST n ày 6 th n

năm

của Toà án nhân dân huyện C đ quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu xác định ranh đất của các nguyên đơn ông Nguyễn Văn X, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Yến H2.

Xác định ranh đất giữa đất Nguyễn Văn X, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Yến H2 và đất ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L là đường thẳng từ đầu mốc 2 đến mốc 20 theo sơ đ đo đ c ngày 15/9/2016.

Buộc hộ ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L giao trả l i cho ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị Yến H2 phần diện tích 44,1m2 đất tr ng cây lâu năm, thuộc thửa 293 tờ bản đ số 52 vị trí t i các mốc 9, 20, 2, 3, 9 theo tr ch đo hiện tr ng đất tranh chấp ngày 15/9/2016 của Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất huyện C.

2. Giữ nguyên hiện tr ng ranh đất giữa đất ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị Yến H2 và đất ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L.

Xác định ranh đất giữa đất ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị Yến H2 và đất ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L là đường thẳng từ mốc 1, 9 theo sơ đ đo đ c ngày 15/9/2016.

Các chướng ng i vật t nh theo đường ranh đất được xác định theo hông gian và lòng đất, theo chiều thẳng đứng của ranh đất, nếu bên nào vi ph m có trách nhiệm tháo d , di dời để sử dụng ranh giới quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị Yến H2 và ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ê hai đăng điều ch nh l i diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với diện tích thực tế đang sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn X được nhận l i số tiền t m ứng án ph đã nộp 630.000 đ ng theo biên lai thu số 038340 ngày 15/12/2015 t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

- Về chi ph đo đ c, xem xét thẩm định t i chỗ, định giá tài sản: Tổng cộng 2.725.000 đ ng ông Nguyễn Văn X (đã nộp t m ứng và đã chi xong) mỗi bên phải chịu 50% chi ph , do đó ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L phải có trách nhiệm trả l i cho ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị Yến H2 số tiền 1.362.500 đ ng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn Văn X, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Yến H2 mà ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L chưa thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất 50% của mức lãi suất được qui định t i hoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự t i thời điểm thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên thời h n háng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 19/01/2017 nguyên đơn ông Nguyễn Văn X và bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn háng cáo toàn bộ bản án.

T i phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, ông Nguyễn Văn N1; ông Nguyễn Văn T và người đ i diện theo ủy quyền ông T là ông Trần Thanh H3 có m t. nh Nguyễn Hoài H4, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn Văn H3 vắng m t.

Ông X, chị H1 giữ nguyên háng cáo yêu cầu ông T, bà L trả l i đất để xác định ranh đất đường thẳng là từ mốc 1 đến mốc 2.

Ông T yêu cầu giữ nguyên diện t ch ranh đất đã được xác định từ hi cha các ông là ông T1 còn sống là từ mốc 1 đến mốc trụ đá 3 về mốc 2.

- Ông N1 trình bày ông đ ng theo iến của ông X, chị H1 là không có trụ đá ranh thứ 3 giữa đất và việc đo đ c đất thì phần đất đo c p nhà ông T ra thẳng mốc số 2. ng hông có yêu cầu gì trong vụ án.

T i phiên tòa đ i diện Viện iểm sát phát biểu quan điểm việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử từ hi thụ l vụ án cho đến hi xét xử đúng quy định pháp luật, các đương sự chấp hành tốt quy định t i phiên tòa. Bà L, anh H4, ông Nguyễn Văn H3 vắng m t lần thứ hai hông có l do theo quy định Tòa án v n tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung đề nghị chấp nhận một phần háng cáo của ông X, ông T; sửa bản án sơ thẩm, xác định ranh đất giữa ông X và ông T t i các mốc 1- A-D - 19 – 20 (theo sơ đ tr ch đo hiện tr ng ngày 20/9/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C).

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh tụng t i phiên tòa, iến phát biểu của đ i diện Viện iểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

[1] Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 293, tờ bản đ số 52, diện tích 456m2 do ông Nguyễn Văn X đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 15/01/2014 với ranh thửa đất 140, diện t ch 790m2, tờ bản đ số 52 do ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp ngày 31/12/2013. Đất t a l c t i ấp T.H, xã T.N.Đ, huyện C, t nh Đ ng Tháp.

[2] Về ngu n gốc đất của ông Nguyễn Văn T1 là cha của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Văn H3.

Đất ông Nguyễn Văn T và vợ là bà Nguyễn Thị Kim L đang sử dụng là ông T1 cho ông N1, ông X một phần đất; năm 1981 ông N1, ông X chuyển nhượng cho ông T và bà L diện t ch đất 790m2. Năm 1984 ông T, bà L xây dựng nhà trên thửa đất này. Đến năm 2006 theo hợp đ ng chuyển nhượng đất với ông T1 nên ông T đi đăng quyền sử dụng đất t i thửa 1514/267, T1 bản đ số 7, diện t ch 790/3629, mục đ ch đất tr ng cây lâu năm, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 08/11/2006 cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2009 ông T, bà L xây dựng cất l i nhà và có hỏi iến của ông T1 là cho ông T, bà L xây dựng l i nhà có xéo lấn qua phần đất của ông T1; ông T1 đ ng cho ông T, bà L xây dựng. Đến ngày 31/12/2013 ông T, bà L làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa số 140, tờ bản đ số 52, diện t ch 790m2 (qua đo đ c thực tế còn 667,3m2).

[3] Diện t ch đất còn l i của ông T1 thì ông X, ông N1 có trả vàng phần đất sang lấp cát cho bà Nguyễn Thị T2 vào năm 2010. Đất năm 2011 ông T1 được cấp quyền sử dụng đất diện t ch 1.370m2; ngày 28/11/2011 ông Nguyễn Văn T1 có lập di chúc chia đất cho các con g m ông X, ông N1, ông H3. Năm 2013 ông T1 chết; năm 2014 ông X, ông N1, ông H3 ê hai đăng và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như diện t ch đất ông Nguyễn Văn X diện t ch 456m2, ông Nguyễn Văn N1 diện t ch 457m2, ông Nguyễn Văn H3 diện t ch 457m2. Qua đo đ c thực tế phần diện t ch đất của ông X diện t ch 378,2m2, ông H3 diện t ch 442,2m2, ông N1 diện t ch 476,1m2.

Ông X, bà H1, chị H2 yêu cầu ông T, bà L trả l i diện t ch đất lấn chiếm hoảng 21m2. Đo đ c thực tế trước đây thì yêu cầu là 59,6m2, trong đó phần ông T xây dựng nhà lấn qua phần đất ông X diện t ch 15,5m2 t nh từ mốc số 1 đến mốc số 9, 20 về mốc 1, còn phần đất ph a sau nhà ông T qua đất ông X 44,1m2 thể hiện mốc số 9 qua mốc 20, 2, 3 về mốc 9. Để xác định ranh đất từ mốc 1 đến mốc 2 theo tr ch đo hiện tr ng đất tranh chấp ngày 15/9/2016 của Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất huyện C.

[4] Xét háng cáo ông X, ông T theo yêu cầu của các đương sự về phần đất ông T xây dựng nhà lấn qua đất ông X theo đo đ c thực tế l i là sân nền nhà và phần xây dựng nhà lấn qua phần đất ông X có vị tr t nh từ các mốc 1, A, D, đến 19 qua mốc 20; phần đất ph a sau nhà ông T qua đất ông X 44,1m2 thể hiện mốc số 19, qua mốc số 20 thẳng đến mốc số 2, 3 về 19 theo tr ch đo hiện tr ng đất tranh chấp ngày 20/9/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C (trước đây là Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất huyện C). Xét ông X, bà H1 yêu cầu ông T, bà L di dời nhà trả l i phần đất đã lấn chiếm qua đất của ông X là hông có căn cứ, vì: phần đất ông T chuyển nhượng của ông N1, ông X từ năm 1981; việc xây dựng nhà có lấn qua đất ông T1 vào năm 2009 là do ông T1 đ ng hông có ai tranh chấp gì. Đến năm 2013 ông T1 (chết); năm 2014 ông X1 đi ê hai đăng quyền sử dụng đất thừa hư ng theo tờ di chúc ngày 28/11/2011. Trong di chúc ông T1 ghi rõ ý iến ông T1 như sau: ông T1 có diện t ch đất theo giấy chứng nhận là 1.370m2 đất. Sau khi ông T1 chết quyền sử dụng đất để l i được chia đều cho 03 người con: ông X, ông N1, ông H3. Diện t ch đất thực tế có tăng hay giảm, có thay đổi về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các con tôi v n được thừa hư ng theo giấy chứng nhận mới sau này”. Ông X được hư ng và đăng quyền sử dụng đất là 456m2. Do đất cất nhà ông T sử dụng từ trước đươc ông T1 cho; ông X được hư ng thừa ế sau vị tr , diện t ch đất có sự thay đổi nên không chấp nhận yêu của ông X, bà H1 yêu cầu ông T, bà L trả l i phần diện tích ranh đất nhà ông T đang . Về phần sân nền nhà có bó nền và lót g ch tàu xây nhiều hơn chiều ngang vị tr căn nhà của ông T được xác định t i vị tr ranh đất giao cho ông X, chị H1 thì ông T đ ng hông yêu cầu tranh chấp trả giá trị xây dựng nên hông xem xét giải quyết.

Còn phần phía sau mốc D, 19 qua mốc số 20 thẳng ra mốc số 2 (giáp thửa 227) thì diện t ch đất này các bên chưa sử dụng nhưng đất đã được cấp quyền sử dụng đất cho ông X, bà H1. Ông T háng cáo hông đ ng vì cho rằng có tr ng trụ đá thứ ba làm ranh đất hai bên nhưng ông X hông thừa nhận. Ông T thừa nhận ông T1 ch cho phần đất diện t ch đất cất nhà lấn qua, còn phần diện t ch đất này ông T thừa nhận lấn của ông X. T i biên bản hòa giải ngày 30/7/2015 của Ủy ban nhân dân xã T.T.Đ, ông T đ ng xác định trụ ranh 02 đầu đất là đúng về nhà và đất lấn qua thì xin được t m giữ nguyên hi nào ông X có chuyển quyền thì ông sẽ di dời trả l i phần diện t ch đất này. Do đó ông T, bà L phải trả l i cho ông X diện t ch đất tr ng cây lâu năm, t nh từ mốc 19 qua mốc số 20 đến mốc số 2 theo tr ch đo hiện tr ng đất tranh chấp 20/9/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C.

Từ những nhận định trên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của ông X, bà H1 đối với ông T, bà L về phần ranh đất tranh chấp là có căn cứ, phù hợp với tình tiết hách quan của vụ án nên hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông X, ông T. Tuy nhiên, t i phiên tòa ông X và ông T yêu cầu xem xét, thẩm định t i chỗ để có số liệu phù hợp thực tế và qua đo đ c l i thì vị tr đã tranh chấp hai bên v n thống nhất, diện t ch cũng hông thay đổi nhưng số đo các c nh có sự chênh lệch nên sửa án sơ thẩm về phần ch thước sơ đ đất.

Về án ph dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của nguyên đơn xác định l i ranh đất nên nguyên đơn được nhận l i tiền án ph dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Đ ng thời chi ph đo đ c, thẩm định, định giá tài sản tranh chấp với tổng số tiền là 2.725.000 đ ng (trong đó chi ph đo đ c 2.125.000 đ ng, chi ph định giá 600.000 đ ng) số tiền này bên ông X đã t m ứng và chi xong, nên mỗi bên chịu 50% chi ph , do đó hộ ông T, bà L phải có trách nhiệm trả l i cho ông X số tiền 1.362.500 đ ng là đúng quy định pháp luật nên hông chấp nhận kháng cáo này của ông T.

Qua phân tích nêu trên xét đề nghị của đ i diện Viện iểm sát nhân dân là đúng quy định pháp luật và có căn cứ nên chấp nhận.

Án ph phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự hông phải chịu tiền án ph phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 175, 176 của Bộ luật dân sự; Điều 95 của Luật đất đai.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Chấp nhận háng cáo của ông Nguyễn Văn X và ông Nguyễn Văn T.

Sửa bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu xác định ranh đất của các nguyên đơn ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị Yến H2.

Xác định ranh giới giữa thửa đất 293 của ông Nguyễn Văn X, bà Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị Yến H2 với thửa đất 140 của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim L là đường thẳng từ đầu mốc 1 đến mốc , D qua 19, 20 đến mốc 2 theo sơ đ đo đ c ngày 20/9/2017 của Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất huyện C.

Các chướng ng i vật t nh theo đường ranh đất được xác định theo hông gian và lòng đất, theo chiều thẳng đứng của ranh đất, nếu bên nào vi ph m có trách nhiệm tháo d , di dời để sử dụng ranh giới quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ê hai đăng điều ch nh l i diện t ch theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với diện t ch thực tế đang sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai.

2. Về chi ph , án ph tố tụng:

- Về chi ph đo đ c, xem xét thẩm định t i chỗ, định giá tài sản: Tổng cộng 2.725.000 đ ng ông Nguyễn Văn X (đã nộp t m ứng và đã chi xong) mỗi bên phải chịu 50% chi ph , do đó ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L phải có trách nhiệm trả l i cho ông Nguyễn Văn X, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Yến H2 số tiền 1.362.500 đ ng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn Văn X, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Yến H2 mà ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L chưa thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất 50% của mức lãi suất được qui định t i hoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự t i thời điểm thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về án ph dân sự sơ thẩm:

- ng Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đ ng tiền án ph dân sự sơ thẩm. ng Nguyễn Văn X được nhận l i số tiền t m ứng án ph đã nộp 630.000 đ ng theo biên lai thu số 038340 ngày 15/12/2015 t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

- Án ph dân sự phúc thẩm:

+ ng Nguyễn Văn T được nhận l i số tiền t m ứng án ph đã nộp 300.000 đ ng theo biên lai số 11921 ngày 20/01/2017 t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

+ ng Nguyễn Văn X được nhận l i số tiền t m ứng án ph đã nộp 300.000 đ ng theo biên lai số 11920 ngày 20/01/2017 t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Trường hợp, bản án quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay.

Cỡ chữ