vanban.org

Bản án 284/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 284/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02-7-2024
V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trường Hận 2. Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 243/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1971. 2. Bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1973. Cùng địa chỉ cư trú: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn: Ông Dương Văn H trình bày: Về hôn nhân: Ông và bà H1 xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2000, nhưng đến nay ông và bà H1 không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nay, ông H xác định mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với bà H1. Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Dương Hoài T, sinh ngày 15/01/1996 (giới tính: Nam), hiện cháu đã trưởng thành, nên không có yêu cầu Toà án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng. Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật và bảo lưu ý kiến như trình bày tại đơn khởi kiện.

- Đối với bị đơn: Bà Trần Thị H1: Khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án. Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn bà H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cần xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp. Về quan hệ pháp luật: Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, do bị đơn là bà H1 có nơi cư trú tại ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Theo ông H xác định, giữa ông và bà T1 chung sống với nhau từ năm 2000, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ Xác nhận ngày 06/5/2024 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau cung cấp, thì giữa ông H và bà T1 không có đăng ký kết hôn Do đó, về mặt hôn nhân giữa các đương sự đã vi phạm về hình thức. Nay, ông H có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, do có mâu thuẫn và mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân có vi phạm về hình thức. Từ đó, căn cứ các điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hận, không công nhận giữa ông H và bà H1 là vợ chồng.

- Về con chung: Theo ông H xác định, giữa ông và bà H1 có 01 người con chung là Dương Hoài T, sinh ngày 15/01/1996 (giới tính: Nam), hiện cháu đã trên 18 tuổi và không có bị bệnh hoặc khuyết tật gì khác. Đồng thời, ông H có cung cấp 01 Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cơ quan có thẩm quyền cấp ngày 24/4/2023, thể hiện là Dương Hoài T, sinh ngày 15/01/1996, phù hợp với lời trình bày của ông H. Đối với bà H1 vắng mặt, không có ý kiến gì khác. Như vậy, cho thấy tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 02/7/2024 thì cháu T đã trên 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng.

- Về tài sản, nợ: Ông H không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác. [3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, nên ông H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 273, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các điều 9, 14, 15, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2014. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn H. 1/ Về hôn nhân: Không công nhận giữa ông Dương Văn H và bà Trần Thị H1 là vợ chồng. 2/ Về con chung: Đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng. 3/ Về tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác. 4/ Về án phí: Ông Dương Văn H phải chịu án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng mà ông H đã dự nộp tại Biên lai thu 4927 ngày 07/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ. 5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. “Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ