- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Minh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 284/2021/HS-ST Ngày 05 - 7 -2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Trần Thanh Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dânthành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụán hình sự thụ lý số 298/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 330/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Minh H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29/10/1994; Nơi sinh: TP Thái Nguyên, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 8, phường TT, thành phố T;; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề ngG: Lao động tự do; Không xác định được bố, con bà: Lộc Thị A, sinh năm 1958; Vợ: Vũ Thị Thu B, sinh năm 1994, chưa có con; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Anh Đỗ Thanh C, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Xóm X, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị D, sinh năm 1970 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: Xóm X, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng:
1, Anh Nông Thái E– sinh năm 1994 (vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Tổ 9, phường TĐ, TP. T, tỉnh Thái Nguyên
2, Anh Đỗ Văn F – sinh năm 1996(vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Xóm GC, xã CN, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
3, Anh Phạm Văn G – sinh năm 1998 (vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Thôn KĐ, xã PĐ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
4, Anh Nông Mạnh Y – sinh năm 1988(vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Tổ 9, phường TĐ, TP.T, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 30/10/2020, Vũ Minh H nhận được điện thoại của chị Ngô Quỳnh A (sinh năm 1992, trú tại chung cư Tiến Bộ, thuộc phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên) gọi đến quán Karaoke Lan Cường tại khu vực tổ 03, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên để dự sinh nhật của anh Nông Thái E(sinh năm 1994, trú tại: tổ 9, phường TĐ, thành phố Thái Nguyên). H đồng ý sau đó một mình điều khiển xe mô tô đi đến quán karaoke trên. H đi vào phòng hát số 04, tầng 01 của quán, lúc này trong phòng hát có anh Nông Thái Dương, chị Ngô Quỳnh A, anh Đỗ Thanh C (sinh năm 1997, trú tại: Xóm X, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang) và khoảng 06 đến 07 người khác đang ở trong phòng. Khi vào phòng hát H rót bia mời mọi người trong phòng hát thì quan sát thấy anh C đang trêu đùa đối với chị Ngô Quỳnh Anh là chị họ của H. Thấy vậy, H dùng tay trái túm cổ áo anh C và nói “Mày biết đây là chị tao không”, sau đó H và anh C giằng co nhau ra đến cửa phòng hát. Anh C dùng tay phải đấm vào mặt của H. Lúc này, H đang cầm chai bia bằng thủy tinh (loại bia tiger) bằng tay phải nên đã dùng chai bia đó đập 01 cái trúng vào vùng trán của anh C khiến anh C bị rách da chảy máu vùng trán và làm chai bia bị vỡ. Sau khi vỏ chai bia bị vỡ, H vẫn tiếp tục cầm, khi thấy anh C vẫn lao vào phía mình thì H cầm chai bia bị vỡ chọc về phía anh C khiến anh C bị rách da chảy máu vùng tai trái, mu bàn tay phải, và vùng mặt. Sau đó anh C lùi ra nhà vệ sinh bên ngoài, cạnh cửa phòng hát và mọi người lao vào can ngăn thì H dừng lại. Anh C được đưa đến Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên để điều trị vết thương, còn H cũng ra về ngay sau đó.
Hậu quả: Tại biên bản xác minh thương tích tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên xác định anh Toản bị đau nhức vùng đầu, vùng trán có vết thương kích thước khoảng 05 cm, chảy nhiều máu; vết thương vành tai trái kích thước 04 cm, chảy máu, 01 vết thương má kích thước 02cm, vết thương cung mày trái kích thước khoảng 03 cm, vết thương mu bàn tay phải kích thước 01cm, gò má trái có vết xây sát kích thước khoảng 2x2cm.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 646/TgT ngày 24/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh C là 11% (Mười một phần trăm). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H xác định mình là người duy nhất đánh anh C, thương tích của anh C là do một mình bị cáo gây ra.
Vật chứng vụ án gồm: 01 vỏ chai bia hiện không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại anh C xác nhận đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 316 /CT-VKSTPTN, ngày 31/5 /2021 của Viện kiểm sát nhân dânthành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Vũ Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các D tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”:
Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Minh H từ 24 đến 30 tháng tï.
Vật chứng không thu hồi được nên không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.
Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất, xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/10/2020, tại phòng hát số 4 tầng 1 của quán Karaoke Lan Cường ở tổ 3, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, bị cáo Vũ Minh H đã xảy ra mâu thuẫn với anh Đỗ Thanh C, anh C dùng tay phải đấm một cái vào mặt của H, H cầm 01 chai bia thủy tinh (loại bia tiger) đập vào trán anh C làm chai bị vỡ. Tiếp đó, khi anh C tiến về phía H, H cầm phần chai còn lại sau khi bị vỡ đâm về phía anh C. Do bị H đánh, anh C bị thương ở vành tai trái, má phải, cung mày trái, gò má trái và mu bàn tay phải với tổng tỷ lệ thương tật được giám định là 11%.
Hành vi nêu trên của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự nên cần phải được xét xử nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo giáo dục riêng bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Do vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dânthành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Vũ Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 134 Bộ luật hình sự quy định như sau:
1. “ Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 % đến 30%..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm
a)...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
...
. Về nhân thân và các D tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo chưa có tiền sự, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời, sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thương tích do bị cáo gây ra cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các D tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu D tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội do nhất thời, bột phát, không kiềm chế được bản thân. Mặt khác, bị hại cũng có lỗi một phần, đó là khi mâu thuẫn xảy ra, bị hại đã dùng tay đấm bị cáo, bản thân bị hại đã bị Công an thành phố Thái Nguyên lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 30/10/2020 về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác và bị Công an thành phố Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0104485 ngày 27/5/2021 (Quyết định được lưu trong hồ sơ vụ án).
Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhiều D tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được địa phương nơi cư trú xác nhận nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
. Vật chứng của vụ án: 01 chai bia thủy tinh đã bị vỡ không thu giữ được nên không xem xét.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền bà D là mẹ đẻ anh C đã nhận bồi thường thay cho bị hại là anh C, bà D xác định đã chuyển cho anh C, anh C cũng xác nhận sự việc này tại đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về số tiền giữa bà D và anh C.
Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là nghiêm khắc so với hành vi phạm tội và nhân thân, các D tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Trong vụ án này, khi bị cáo đánh bị hại đã làm vỡ 01 vỏ chai bia Tiger của anh Bùi Phú Cường, nhưng anh Cường không đề nghị bị cáo H phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾTĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Minh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Vũ Minh H 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Minh H cho Ủy ban nhân dân phường TT, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Vũ Minh H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKSND TPTN; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an TPTN; - Chi cục THADS TPTN; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - UBND P.TT, TPTN; - Bị cáo; Bị hại; NLQ; - Lưu: Hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ĐÃ KÝ Vũ Thị An |