vanban.org

Bản án 284/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 31/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự
T A N NH N D N C NG H A
T NH Đ NG TH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 284/2019/HS-PT
Ngày: 31-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC C NG H A

H CH NGH A V T NAM

T A N NH N D N T NH Đ NG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự

Các thẩm phán: Ông Bùi Văn Phương

Bà Nguyễn Thị Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc – Thư ký T a án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30, 31 tháng 10 năm 2019 t i tr s T a án nhân dân tỉnh Đồng Tháp t

c ng khai v án hình sự phúc th m th lý số: 218/2019/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Đỗ Văn M, do có kháng cáo của các bị h i và kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL đối với Bản án sơ th m số: 57/2019/HS-ST ngày 22/7/2019 của T a án nhân dân thành phố CL.

- Bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị:

Đỗ Văn M, sinh năm 1985, t i tỉnh Bến Tre; HKTT: Tổ 8, ấp TC, xã TT, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ : Tổ 20, khóm MH, Phường 3, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Đỗ Văn Đ và bà Lê Thị Ph; có vợ (đã ly h n) và có 03 người con; chung sống như vợ chồng với chị Lý Vân H; tiền án, tiền sự: Kh ng; nhân thân: Ngày 13/10/2003, bị T a án nhân dân tỉnh Đồng Tháp ph t 03 năm tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” chấp hành ong hình ph t tù ngày 28/4/2006; t m giữ, t m giam: không. Hiện bị cáo đang t i ngo i, có mặt.

- Bị hại có kháng cáo:

1. Nguyễn Châu Gi, sinh năm 1985; Nơi cư trú: ấp TH, xã TT, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.

2. Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1982; Nơi cư trú: ấp TH, xã TT, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.

N DUNG V N:

Theo các tài li u có trong h s v án và di n bi n tại phiên tòa, n i dung v án đ c tóm t t nh sau:

Nguyễn Thị Ch và Nguyễn Châu Gi sống như vợ chồng địa chỉ: ấp TH, xã TT, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp vì nghe vợ chồng Lý Vân H và Đỗ Văn M trú t i khóm MH, Phường 3, thành phố CL nói Ch thiếu nợ nhiều. Cho rằng vợ chồng M nói xấu mình nên ngày 06/8/2018 Ch nói l i cho Gi nghe và kêu Gi cùng đến quán cháo của vợ chồng M bán t i Tổ 32, Khóm 3, Phường 2, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp để tìm hiểu nguyên nhân, được Gi đồng ý, nên vào khoảng 17 giờ cùng ngày Ch và Gi rủ thêm Lê Thanh Ph, sinh năm: 1999; Lê Hoàng A, sinh năm: 1994 và Ph m Tấn Nh, sinh năm 1997 cùng ng Tổ 9, ấp TC, xã TT, thành phố CL cùng đi. Tất cả là 05 người cùng đi đến quán cháo của vợ chồng M, lúc này khoảng 17 giờ 30 phút, khi đến nơi Gi, Ph, Nh và A dừng e bên ngoài, còn Ch vào quán gặp chị H và hai bên cải nhau, trong lúc đó chị H gọi điện tho i nói cho M biết là Ch kéo giang hồ uống quậy quán, đồng thời cũng điện báo C ng an Phường 2. Nghe điện của H xong M ch y về quán nói chuyện với chị Ch, chị Ch ch i M nhiều lời, vì bức úc trước lời lẽ của chị Ch, nên M vào bên trong quầy lấy con dao cán gỗ dài 18cm, lưỡi bằng kim lo i dài 29cm (con dao có hình bán nguyệt) ch m vào người của chị Ch nhiều cái, trúng vào vai, khuỷu tay phải, khuỷu tay trái. Thấy chị Ch bị ch m, Gi dùng ghế nhựa và bàn Ino đánh l i M, M đưa tay đỡ rồi cầm dao ch m Gi nhiều cái, gây thương tích cho Gi vùng má phải, mu bàn tay trái. Thấy Gi và Ch bị M chém, nên Ph, Nh và A lấy bàn ghế t i quán và mũ bảo hiểm để làm hung khí đánh M, nhưng M dùng dao ch m tới tấp làm cho nhóm của Gi bỏ ch y, lúc này C ng an Phường 2 cũng vừa tới, nên hai bên ngưng kh ng đánh nhau, do bị thương tích nặng nên Gi được đưa đi cấp cứu t i Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp điều trị đến ngày 10/12/2018 thì uất viện.

Theo kết quả Kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp số 397/TgT ngày 27/12/2018 đã kết luận thương tật của Nguyễn Châu Gi như sau: Sẹo vết thương phần mềm vùng mũi má phải, thái dương phải ảnh hư ng th m mỹ; Sẹo phần mềm vùng vai phải, lưng phải; Vết thương mu bàn tay trái gây đứt gân duổi ngón IV, V, gãy ương bàn ngón V tay trái đã ph u thuật klhâu nối gân, kết hợp ương, tỷ lệ thương tật 22% t i thời điểm giám định.

Theo kết quả Kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp số 398/TgT ngày 27/12/2018 đã kết luận thương tật của Nguyễn Thị Ch như sau: Đa sẹo vết thương phần mềm số lượng sẹo nhiều, kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật 05% t i thời điểm giám định.

Theo kết quả Kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp số 401/TgT ngày 27/12/2018 đã kết luận thương tật của Đỗ Văn M như sau: Sẹo sây sát da mặt ngoài cẳng tay phải số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật 01% t i thời điểm giám định.

Tại bản án hình sự s thẩm số: 57/2019/HS-ST ngày 22/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố CL đã quy t định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn M ph m tội “Cố ý gây thương tích”.

X ph t bị cáo Đỗ Văn M 02 (hai) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình ph t.

Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào Điều 48 BLHS và Điều 590 BLDS;

Buộc bị cáo Đỗ Văn M bồi thường cho bị h i Nguyễn Châu Gi tổng cộng các khoảng là 18.800.000đ.

Buộc bị cáo Đỗ Văn M bồi thường cho bị h i Nguyễn Thị Ch số tiền là 3.000.000đ

Ngoài ra, án s thẩm còn tuyên x lý v t ch ng, án phí và quy n kháng cáo theo lu t định.

Ngày 01/8/2019, bị h i Nguyễn Châu Gi có đơn kháng cáo tăng hình ph t tù đối với Nguyễn Văn M lý do mức án sơ th m là nhẹ và buộc bị cáo M bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần là 55.600.000đ (tương đương với 40 tháng lương cơ s )

Ngày 01/8/2019 bị h i Nguyễn Thị Ch kháng cáo tăng hình ph t tù đối với bị cáo và bồi thường 15.000.000 đồng (gồm tiền điều trị thương tích 3.000.000đ + tiền thu nhập bị mất do kh ng lao động được 6.000.000đ + tổn thất tinh thần 6.000.000đ = 15.000.000đ)

Ngày 05/8/2019, Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL có Quyết định số 02/QĐ-VKSND-TPCL kháng nghị bản án hình sự sơ th m số 57/2019/HS-ST ngày 22/7/2019 của T a án thành phố CL về phần trách nhiệm dân sự. Buộc bị cáo Đỗ Văn M bồi thường tổn thất tinh thần cho bị h i theo quy định t i khoản 2 Điều 590 BLDS.

T i phiên tòa, các bị h i giữ nguyên kháng cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị.

T i phiên tòa, Viện kiểm sát cho rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, mức án sơ th m tuyên là có căn cứ, đúng với mức độ cũng như tính chất ph m tội mà bị cáo đã thực hiện, mức án 02 năm tù là tương ứng vì việc ph m tội của bị cáo có phần lỗi của các bị h i, tự k o đến gây chuyện úc ph m bị cáo. Tuy nhiên, án sơ th m nhận định do lỗi của bị h i nên kh ng buộc bồi thường tổn thất tinh thần là kh ng đúng theo quy định t i Khoản 2 Điều 590 BLDS mà bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho phía bị h i do hành vi gây thương tích của mình. Việc các bị h i yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần là có căn cứ. Từ những phân tích trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng t kh ng chấp nhận kháng cáo của các bị h i về yêu cầu tăng hình ph t tù đối với bị cáo, giữ nguyên bản án sơ th m về hình ph t tù, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị h i về việc buộc bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền c ng lao động và chấp nhận kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát thành phố CL. S a án sơ th m về phần trách nhiệm dân sự.

Bị cáo Đỗ Văn M kh ng có phát biểu tranh luận.

Các bị h i Nguyễn Châu Gi và Nguyễn Thị Ch kh ng phát biểu tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo yêu cầu Hội đồng t phúc th m em t giảm mức bồi thường do hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn.

NH N Đ NH C A T A N:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:

[1] Bị cáo Đỗ Văn M thừa nhận thực hiện hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Nguyễn Châu Gi với tỷ lệ là 22% và gây thương tích cho Nguyễn Thị Ch với tỷ lệ 5%. Do đó, án sơ th m kết tội bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai, mức án 02 năm tù của cấp sơ th m đối với bị cáo là tương ứng nên bị cáo kh ng kháng cáo. Bị h i Nguyễn Châu Gi và Nguyễn Thị Ch cũng đồng ý với Bản án sơ th m kết tội bị cáo Đỗ Văn M ph m tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên, các bị h i cho rằng mức án 02 năm tù đối với bị cáo là quá nhẹ so với tính chất mức độ hành vi ph m tội của bị cáo gây ra, chưa đủ sức răn đe bị cáo và ph ng ngừa chung. Hành vi của bị cáo M là c n đồ gây thương tích cho bị h i nhiều nơi và gây thương tích cho nhiều người, nên bị h i Nguyễn Châu Gi và Nguyễn Thị Ch đề nghị tăng hình ph t tù đối với bị cáo. X t thấy, hành động ph m tội của bị cáo có phần lỗi của các bị h i đã tự ý cùng nhiều người k o đến nơi kinh doanh của bị cáo để lớn tiếng với nhau kh ng đáng có và khi gặp bị cáo thì bị h i Ch đã có lời lẽ úc ph m bị cáo, từ đó gây bức úc cho bị cáo, dẫn đến hành vi ph m tội của bị cáo, cấp sơ th m đã em t hết các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng mà bị cáo được hư ng và phải chịu. Vì vậy, mức hình ph t 02 năm tù mà cấp sơ th m

ph t đối với bị cáo là có căn cứ. Do đó, Hội đồng t kh ng chấp nhận kháng cáo của các bị h i yêu cầu tăng hình ph t tù đối với bị cáo, giữ nguyên bản án sơ th m về phần hình ph t tù.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị h i Nguyễn Châu Gi và Nguyễn Thị Ch về trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho các bị h i. Nhận thấy ngoài chi phí điều trị và tiền c ng lao động bị h i có yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, nhưng án sơ th m nhận định: Do các bị h i v cớ k o nhiều người đến quán của bị cáo, các bị h i có ý thức sẳn sàng gây sự và đánh nhau khi cần thiết, nên kh ng chấp nhận yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần của bị h i Nguyễn Châu Gi, Nguyễn Thị Ch cùng khoản bồi thường tiền thu nhập bị mất của chị Ch. Đây là nhận định kh ng đúng pháp luật và kh ng phải là căn cứ để em t bồi thường tổn thất tinh thần, theo quy định t i Điều 590 BLDS, trách nhiệm bồi thường trong v án gây thương tích là nghĩa v của bị cáo, mức bồi thường dựa vào lỗi của các bên. Thực tế bị cáo đã gây thương tích cho bị h i Nguyễn Châu Gi với tỷ lệ thương tật 22% và Nguyễn Thị Ch là 05% làm cho các bị h i bị tổn thương về thể ác và làm ảnh hư ng đến tinh thần, do đó buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho các bị h i là đúng quy định. Tuy nhiên, t lỗi trong v án này cũng có một phần của các bị h i là k o đ ng người đến quán cháo của bị cáo, đồng thời cũng có lời lẽ úc ph m bị cáo, điều này t i phiên t a phúc th m các bị h i cũng thừa nhận, cho nên mức bồi thường 55.000.000đ mà bị h i Gi yêu cầu là kh ng phù hợp, mà chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị h i Gi 5.000.000đ tiền tổn thất tinh thần là có căn cứ. Riêng đối với bị h i Nguyễn Thị Ch yêu cầu tiền tổn thất tinh thần là 6.000.000đ nhưng kh ng đưa được lý do chính đáng, trong khi t về lỗi trong v án này, thì chị Ch là người đề uất với Gi và b n Gi đến quán của bị cáo, đồng thời trực tiếp lớn tiếng úc ph m bị cáo, nếu kh ng có những hành vi này của chị Ch thì kh ng có việc bị cáo M ph m tội, cho nên chỉ cần bồi thường tổn thất tinh thần cho chi Ch 02 tháng lương cơ s tương ứng với mức 2.980.000đ là phù hợp. Ngoài ra, quá trình bị thương tích thì bị h i Ch phải nghỉ lao động 03 tháng, nên có yêu cầu bồi thường 6.000.000đ là có cơ s , vì chị Ch là lao động kh ng ổn định nếu tính trung bình trong ã hội hiện nay từ 150.000đ đến 200.000đ/ngày thì yêu cầu trên chỉ tương đương có 01 tháng cho nên cần chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền thu nhập thực tế của chị Ch bị mất 6.000.000đ là có căn cứ.

[3] X t lời đề nghị của Viện kiểm sát yêu cầu HĐXX kh ng chấp nhận kháng cáo của các bị h i về yêu cầu tăng hình ph t tù đối với bị cáo, giữ nguyên bản án sơ th m về hình ph t tù, lời đề nghị này của Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.

[4] X t kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân thành phố CL cho rằng việc kh ng chấp nhận yêu cầu của các bị h i về bồi thường tổn thất tinh thần là kh ng đúng khoản 2 Điều 590 BLDS, làm ảnh hư ng đến quyền lợi của các đương sự. X t thấy kháng nghị là có căn cứ, vì t i phiên t a bị cáo Đỗ Văn M cũng thống nhất bồi thường tổn thất tinh thần cho các bị h i vì thương tích của các bị h i là do bị cáo gây ra, nhưng việc ph m tội của bị cáo cũng có phần lỗi của các bị h i nên tự nguyện bồi thường cho bị h i Gi là 5.000.000đ, c n đối với bị h i Ch đề nghị HĐXX em t theo quy định của pháp luật, đây cũng là đề nghị của Kiểm sát viên t i phiên t a nên cần chấp nhận.

[5] Về án phí: Do s a án sơ th m về phần trách nhiệm dân sự nên buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ th m theo quy định pháp luật.

Các phần khác của quyết định án sơ th m kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết h n kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự.

1. Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị h i Nguyễn Châu Gi, Nguyễn Thị Ch yêu cầu tăng hình ph t tù đối với bị cáo Đỗ Văn M, giữ nguyên phần ph t tù bản án sơ th m số: 57/2019/HS-ST ngày 22/7/2019 của T a án nhân dân thành phố CL;

2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị h i Nguyễn Châu Gi, Nguyễn Thị Ch buộc bị cáo Đỗ Văn M bồi thường tổn thất tinh thần, tiền thu nhập bị mất.

3. Chấp nhận kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL buộc bị cáo Đỗ Văn M bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho các bị h i Nguyễn Châu Gi, Nguyễn Thị Ch.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.

4. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn M ph m tội “Cố ý gây thương tích”.

X ph t bị cáo Đỗ Văn M 02 (hai) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình ph t.

5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 590 BLDS;

Buộc bị cáo Đỗ Văn M bồi thường cho bị h i Nguyễn Châu Gi tổng cộng các khoảng là 23.800.000đ (trong đó chi phí điều trị thương tích 11.300.000đ; tiền c ng lao động của bị h i và người chăm sóc 7.500.000đ; tiền tổn thất tinh thần 5.000.000đ).

Buộc bị cáo Đỗ Văn M bồi thường cho bị h i Nguyễn Thị Ch số tiền là 11.980.000đ (trong đó chi phí điều trị thương tích 3.000.000đ; tiền thu nhập bị mất 6.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần 2.980.000đ).

Đối với tiền bồi thường khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 BLDS cho đến khi thi hành ong.

5. Về án phí:

Buộc bị cáo phải chịu 1.789.000 đồng án phí dân sự sơ th m.

Các phần khác của quyết định bản án sơ th m kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

i nh n:

Cỡ chữ