- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Th - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí Th phạm tội "Cướp giật tài sản" (chưa đạt).
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 18 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 284/2017/HSST. Ngày: 22/9/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Rỹ
2. Ông Dương Cao Đức
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền, Cán bộ Tòa án nhân
dân Quận 8.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 278/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Chí T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1973 tại SG; Hộ khẩu thường trú:
85/3D PhM, Phường A, quận BTh, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Chí H (Sinh năm: 1952) và bà Nguyễn Thị B (Sinh năm: 1952); Vợ: Nguyễn Thị Minh Ch (Sinh năm: 1976 - đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 23/10/2016 bị Công an xã BH, huyện BC xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã đóng phạt ngày 16/11/2016; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/5/2017 cho đến nay (Có mặt).
Người bị hại: Chị Lê Thị Ánh L, sinh năm: 1984; Hộ khẩu thường trú: 56/1/1
BMTr, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 101/30 Bùi Minh Trực, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Chí Th bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 truy tố hành vi phạm tội
như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/5/2017, Nguyễn Chí Th điều khiển xe gắn
máy biển số 59X2-682.41 đi đến dốc cầu Số D, Phường C, Quận A thì thấy chị Phạm Thị H điều khiển xe gắn máy chở chị Lê Thị Ánh L và cháu Lê Đoàn Nhật T lưu thông cùng chiều, trên cổ chị L có đeo 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, nên Th nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Th tăng ga chạy lên áp sát phía bên phải xe của chị H và dùng tay giật sợi dây chuyền trên cổ chị L, nhưng do chị L có bận áo khoác nên Th không giật đứt được sợi dây chuyền. Lúc này, xe của Th vướng vào xe chị H làm cả hai xe ngã xuống đường. Chị L nắm áo Th tri hô và được quần chúng nhân dân hỗ trợ bắt giữ được Th cùng vật chứng giải giao về trụ sở Công an Phường C, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, vụ việc được chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A để điều tra làm rõ.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe gắn máy biển số 59X2-682.41
- 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng và một mặt dây chuyền hình Êlip có
chữ G ở giữa.
Ngày 22/6/2017 Hội đồng định giá tài sản theo tố tụng hình sự Quận A kết luận giá
trị của: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng và 01 mặt dây chuyền kim loại hình Êlip có chữ G ở giữa là: 2.445.102 đồng. Ngày 13/7/2007, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A đã trả lại tài sản nói trên cho chị Lê Thị Ánh L và chị L không yêu cầu bồi thường.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Nguyễn Chí Th đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Th phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, chị Lê Thị Ánh L và chị Phạm Thị H làm đơn bãi nại, từ chối
giám định phần thương tích do bị ngã xe khi Nguyễn Chí Th giật tài sản.
Tại bản Cáo trạng số 266/CT-VKS ngày 22/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân Quận
A, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Chí Th về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận A giữ nguyên quan
điểm truy tố bị cáo Nguyễn Chí Th về tội “Cướp giật tài sản”, theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm tù đến 04 năm tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên Tòa; căn cứ vào kết
quả tranh luận tại phiên Tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo,
XÉT THẤY:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi
của mình như đã nêu trên, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, người bị hại; tang vật đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, xác định khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/5/2017, Nguyễn Chí Th có hành vi điều khiển xe gắn máy áp sát dùng tay giật sợi dây chuyền trên cổ chị L, do chị L có bận áo khoác nên Th không giật đứt được sợi dây chuyền. Theo định giá sợi dây chuyền có giá trị 2.445.102 đồng. Do đó Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Chí Th phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 136 Bộ luật Hinh sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện di chuyển để chiếm đoạt tài sản nên đã
phạm tội thuộc trường hợp “sử dụng thủ đoạn nguy hiểm”. Đây là những tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Ngoài ra bị cáo là người có nhân thân xấu, bị xử phạt hành chính về hành vi sử
dụng trái phép chất ma túy, do đó để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành công dân tốt, làm ăn lương thiện khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,
tài sản là sợi dây chuyền của chị L bị cáo chưa chiếm đoạt được, do đó xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 18; khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng và một mặt dây chuyền hình Êlip có
chữ G ở giữa, đã trả người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 xe gắn máy biển số 59X2-682.41 qua điều tra xác minh do chị Trần Ngọc Tr
đứng tên đăng ký. Ngày 30/3/2015 chị Tr bán lại xe cho anh Phan Thanh Tr (chủ cửa hàng bán xe gắn máy “Tr”) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 02/4/2015 anh Tr bán lại xe cho chị Nguyễn Kim Th (là chị của Th). Do chị Th cho Th mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết Th sử dụng xe làm phương tiện đi cướp giật tài sản nên ngày 13/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho chị Nguyễn Kim Th là phù hợp quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí Th phạm tội "Cướp giật tài sản" (chưa đạt).
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 18; khoản 3
Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Th 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày 29/5/2017.
- Áp dụng Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại
vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TA ND TP.HCM; - VKS ND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKS ND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Công an Quận 8; - Bị cáo; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |