- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Tôn Thị K và bị đơn ông Trần Phi P về v…"
- Tòa quyết gì? C n c i u u t H n nhân và gia đình n m các i u ,
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG | |
TÒA ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 283/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Chí Bình. - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Dứt; 2. Bà Nguyễn Thị Ly. Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên. Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 280/2024/TLSTHNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 505/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 440/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 326/TB-TA ngày 04/9/2024, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Tôn Thị K, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt. Bị đơn: Ông Trần Phi P, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tôn Thị K trình bày, qua mai mối, bà K và ông Trần Phi P tự tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, vào ngày 23/5/2002. Trong thời gian chung sống, bà K, ông P có sinh được 02 con chung tên Trần Tôn Tiến T, sinh ngày 20/3/2002 và Trần Tôn Tiến Đ, sinh ngày 12/11/2004. Bà K, ông P chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, ông P rượu chè, cờ bạc, hay đánh dập vợ con. Vợ chồng không còn sống chung từ giữa năm 2023 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà K yêu cầu được ly hôn với ông P; không yêu cầu xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng con chung do các con chung Trần Tôn Tiến T, Trần Tôn Tiến Đ đã thành niên, có khả năng lao đ ng nuôi sống bản thân; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết tài sản chung và nợ chung. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số I/2002 ngày 23/5/2002 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C cấp cho ông Trần Phi P và bà Tôn Thị K (bản chính); Giấy khai sinh số 48 ngày 03/4/2002 do Ủy ban nhân dân xã L A cấp đối Trần Tôn Tiến T (bản sao); Giấy khai sinh số 100 ngày 22/4/2005 do Ủy ban nhân dân xã L A cấp đối Trần Tôn Tiến Đ (bản sao). - Bị đơn ông Trần Phi P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Tại phiên tòa: - Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm. - Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, H i đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, H i đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của B luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 B luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228 B luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà K và ông P tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông P không lo làm ăn, rượu chè, cờ bạc, gây nợ nần, đập phá đồ đạc, đánh dập vợ con. Vợ chồng không còn sống chung từ giữa năm 2023 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà K yêu cầu ly hôn với ông P. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà K và ông P diễn ra trong khoảng thời gian dài. Vợ chồng không còn sống chung đã lâu nhưng không thể hàn gắn tình cảm. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, cu c sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Do đó, bà K yêu cầu ly hôn với ông P là có căn cứ. Về con chung, do các con chung Trần Tôn Tiến T và Trần Tôn Tiến Đ đã thành niên, có khả năng lao đ ng nuôi sống bản thân nên đề nghị không đề cập giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung, đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không đề cập giải quyết. Đề nghị H i đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K đối với ông P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Tôn Thị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Phi P. Đồng thời, ông P cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thu c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của B luật Tố tụng dân sự. Ông Trần Phi P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của B luật Tố tụng dân sự. [2] Về n i dung: [2.1] Về hôn nhân: Bà K và ông P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào năm 2002 theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông P là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà K xác định, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, ông P rượu chè, cờ bạc, hay đánh vợ con. Bà K, ông P không còn sống chung từ giữa năm 2023 cho đến nay. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà K và ông P không còn sống chung từ giữa năm 2023 cho đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông P nhưng ông P không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà K. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà K, ông P là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, H i đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K đối với ông P theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [2.2] Về con chung: Bà K xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh hai con chung tên Trần Tôn Tiến T, sinh ngày 20/3/2002 và Trần Tôn Tiến Đ, sinh ngày 12/11/2004. Bà K không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, các con chung đã thành niên, có khả năng lao đ ng nuôi sống bản thân và bà K không yêu cầu xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng các con chung tên Trần Tôn Tiến T, Trần Tôn Tiến Đ nên H i đồng xét xử không đề cập giải quyết. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà K không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết. [2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
C n c i u u t H n nhân và gia đình n m các i u , 7, 73 Bộ lu t Tố tụng dân s n m đi m a khoản i u 7 Nghị quyết 3 BT H ngày 3 tháng n m của y an th ờng vụ quốc hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và s dụng án ph và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Thị Kiều . 1. Về hôn nhân: Bà Tôn Thị K được ly hôn với ông Trần Phi P. Giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số I/2002 ngày 23/5/2002 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Tôn Thị K và ông Trần Phi P không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Do các con chung tên Trần Tôn Tiến T, sinh ngày 20/3/2002 và Trần Tôn Tiến Đ, sinh ngày 12/11/2004 đã thành niên, có khả năng lao đ ng nuôi sống bản thân nên không đề cập giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. 3. Về án phí sơ thẩm: Bà Tôn Thị K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 3 a tr m nghìn đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 3 a tr m nghìn đồng đã n p theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015366 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 15 tháng 4 năm 2024; bà Tôn Thị K đã n p đủ án phí. Ông Trần Phi P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. 4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Tôn Thị K có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Trần Phi P được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Tr ờng hợp ản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại i u u t Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành án dân s có quy n thoả thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc ị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u , 7 và 9 u t thi hành án dân s Thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy định tại i u 3 u t thi hành án dân s
Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện C (1); - UBND xã L, huyện C, tỉnh An Giang (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |