- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Hoàng H, Huỳnh Văn K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 283/2023/HS-ST Ngày 06-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung - Giáo viên hƣu trí.
2. Ông Từ Anh Tuấn - Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX thành phố Dĩ
An.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 258/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 411/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn Hoàng H, sinh ngày 15/7/2006 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng tr : Thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Lê Xuân K, sinh năm 1981 và bà Đoàn Thị Thanh T, sinh năm 1983; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/4/2023, bị Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 1.250.000 đồng, theo Quyết định số 113/QĐ-XPHC, đóng tiền phạt ngày 04/5/2023; bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Huỳnh Văn K1, sinh ngày 19/8/2006 tại tỉnh Bình Định; thƣờng tr : Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; chỗ ở: Số A, đƣờng A, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1985 và bà Lê Thị Kim T1, sinh năm 1985; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 27/4/2023, bị Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 1.250.000 đồng, theo Quyết định số 119/QĐ-XPHC, đóng tiền phạt ngày 11/5/2023; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Bị hại: Anh Phan Minh T2, sinh năm 2002; thƣờng trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở: Số A, đƣờng A, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Văn Hoàng H: Ông Lê Xuân K, sinh năm 1981 và bà Đoàn Thị Thanh T, sinh năm 1983; cùng thƣờng tr : Thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; ông K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà T có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Văn K1: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1985 và bà Lê Thị Kim T1, sinh năm 1985; cùng thƣờng tr : Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; chỗ ở: Số A, đƣờng A, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; ông C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà T1 có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Hoàng H và Huỳnh Văn K1: Ông Cao Ng c L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ gi p pháp lý Nhà nƣớc tỉnh B; có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Anh Cao Thanh T3; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lê Văn Hoàng H và Huỳnh Văn K1 là bạn bè quen biết nhau và cả hai không có việc làm ổn định. Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 30/10/2022 K1 và H đi bộ từ nhà tr số A, đƣờng A, khu phố B, phƣờng A, thành phố D đến khu vực chợ Đ thuộc khu phố B, phƣờng A, thành phố D mục đích tìm tài sản sơ hở của ngƣời dân để chiếm đoạt nhƣng không có. Đến 01 giờ 00 phút ngày 31/10/2022, K1 và H quay lại phòng tr thì phát hiện 01 (một) mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 54Z9-6364 của anh Phan Minh T2 đang dựng trƣớc cửa phòng số 03, xe không khóa cổ, không có ai trông coi nên K1, H thống nhất lấy trộm để sử dụng. Lúc này, K1 lén lút dắt xe còn H đẩy phía sau ra ngoài đƣờng hƣớng về khu Công nghiệp B, sau đó H dùng tay tháo dây điện để khởi động xe rồi chở K1 về thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thì bị lực lƣợng Cảnh sát giao thông huyện D, tỉnh Lâm Đồng kiểm tra lập biên bản, thu giữ xe. Cùng ngày, anh Phan Minh T2 phát hiện mất xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 54Z9-6364 nên đến Công an phƣờng A, thành phố D trình báo. Đến ngày 03/11/2022, Huỳnh Văn K1 và Lê Văn Hoàng H đến Công an phƣờng A đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 54Z9-6364 số khung: Y-346234, số máy: 5C64-346235.
Ngoài ra, ngày 07/4/2023, Huỳnh Văn K1 có hành vi trộm cắp 02 cây thuốc lá hiệu 555 trị giá 600.000 đồng, 02 cấy thuốc lá hiệu con mèo đỏ trị giá 400.000 đồng, 01 cấy thuốc lá hiệu con ngựa trắng trị giá 220.000 đồng và 700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 1.960.000 đồng tại quán cà phê “Winbar” địa chỉ tại số A L, phƣờng A, thành phố D. Ngày 27/4/2023, bị Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 1.250.000 đồng, theo Quyết định số 119/QĐ-XPHC, đóng tiền phạt ngày 11/5/2023.
Ngày 18/4/2023, Lê Văn Hoàng H có hành vi trộm cắp 03 gói thuốc lá hiệu 555 trị giá 140.000 đồng, 02 chai nƣớc ng t hiệu Sting trị giá 20.000 đồng, 01 viên bida màu trắng trị giá 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 660.000 đồng tại quán Cà phê “Winbar” địa chỉ tại số A L, phƣờng A, thành phố D. Ngày 26/4/2023, bị Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 1.250.000 đồng, theo Quyết định số 113/QĐ-XPHC, đóng tiền phạt ngày 04/5/2023.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 195/BBĐG-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 54Z9-6364 số khung: Y-346234, số máy: 5C64-346235, có trị giá 4.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp cho các bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 195/BBĐG-HĐĐGTS ngày 28/12/2022của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Tại cáo trạng số: 269/CT – VKS – DA ngày 25 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Lê Văn Hoàng H và Huỳnh Văn K1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Lê Văn Hoàng H và Huỳnh Văn K1, mỗi bị cáo với mức hình phạt từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 54Z9-6364 số khung: Y-346234, số máy: 5C64-346234 là của anh Phan Minh T2. Ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã trả xe trên lại cho anh T2.
* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho Phan Minh T2, bị hại T2 không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
- Người bào chữa cho các bị cáo tranh luận:
+ Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Về nội dung: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, ngƣời bào chữa cho bị cáo đƣa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhƣ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm tr ng; các bị cáo đã bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho bị hại; sau khi phạm tội các bị cáo đầu th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo H sống xa gia đình nên thiếu sự giáo dục; khi phạm tội bị cáo là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi nên ngƣời bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp nhất cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội.
- Ngƣời đại diện hợp pháp của các bị cáo không tranh luận, nhƣng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đồng thời trong lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại Phan Minh T2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị hại.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và ngƣời đại diện hợp pháp của các bị cáo khai nhận bản thân các bị cáo không có nghề nghiệp, không tham gia h c tập, sinh hoạt bất kỳ tổ chức chính trị xã hội nào. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 420 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không đƣa nhà trƣờng, tổ chức nơi các bị cáo h c tập, sinh hoạt tham gia tố tụng.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 01 giờ 00 ph t ngày 31/10/2022, tại nhà tr số A, đƣờng A, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Huỳnh Văn K1 và Lê Văn Hoàng H có hành vi lén l t chiếm đoạt của bị hại Phan Minh T2 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 54Z9-6364 có trị giá 4.000.000 đồng.
Nhƣ vậy, hành vi của các bị cáo lén l t chiếm đoạt tài sản của bị hại có trị giá 4.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 269/CT - VKS - DA ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đ ng ngƣời, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm tr ng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Các bị cáo tham gia với vai trò là ngƣời thực hành.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm tr ng; các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng cho bị hại; sau khi phạm tội các bị cáo đầu th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, trong quá trình tại ngoại các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ngƣời khác nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm tr ng, xâm phạm đến tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của các bị cáo ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung. Các bị cáo phạm tội trong độ tuổi từ đủ 16 đến dƣới 18 tuổi nên áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Đồng thời để đảm bảo cho việc thi hành án nên cần áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ tr số: 141, 142/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đối với các bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, khi phạm tội các bị cáo là ngƣời dƣới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 54Z9-6364 số khung: Y-346234, số máy: 5C64-346234 là của anh Phan Minh T2. Ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã trả xe trên lại cho anh T2 nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho các bị hại Phan Minh T2, bị hại T2 không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng cũng nhƣ trách nhiệm dân sự là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị.
Xét quan điểm bào chữa của ngƣời bào chữa cho các bị cáo là có cơ sở chấp nhận một phần.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Hoàng H, Huỳnh Văn K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn Hoàng H 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn K1 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
1.2 Áp dụng Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tiếp tục áp dụng các Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ tr số: 141, 142/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, kể từ khi tuyên án đến khi các bị cáo Lê Văn Hoàng H, Huỳnh Văn K1 đi chấp hành án phạt tù
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Lê Văn Hoàng H, Huỳnh Văn K1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của các bị cáo và ngƣời bào chữa cho các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời đại diện hợp pháp của các bị cáo vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA