- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Huỳnh B và bà Nguyễn
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 283/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 12 - 2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Lâm Sơn;
2. Ông Trương Phước Công.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 854/2023/TLST-
HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly
hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 596/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày
13 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huỳnh B, sinh năm 1979; địa chỉ: số 406, tổ
25, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; địa chỉ: số 406, tổ 25, ấp L, xã
L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn ông Nguyễn Huỳnh B trình bày, sau thời gian quen biết và tìm
hiểu, ông B và bà T kết hôn năm 2001, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký
kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, ông B và bà T
có sinh 02 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh năm 2001, Nguyễn Vũ L, sinh
2004. Hiện 02 con chung đã thành niên; không có tài sản chung, nợ chung.
Chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, ông B
và bà T thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn sống
chung từ thời gian đó cho đến nay.
Do tình cảm không còn nên ông B yêu cầu được ly hôn với bà T; không
yêu cầu giải quyết con chung, do con chung đã thành niên; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện: Các giấy khai sinh của Nguyễn Văn Vũ L, sinh năm 2001 (bản sao), Nguyễn Vũ L, sinh năm 2004 (bản sao).
Theo tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà
Nguyễn Thị T trình bày, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà T và ông B kết hôn năm 2001, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, bà T và ông B có sinh 02 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh năm 2001, Nguyễn Vũ L, sinh 2004. Hiện 02 con chung đã thành niên; không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết tài sản chung, nợ chung.
Ông B và bà T sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu
thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung cho đến nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau
được nên bà T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông B; không yêu cầu giải quyết con chung, do con chung đã thành niên; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên tòa:
- Trong quá trình giải quyết vụ án ông B, bà T có yêu cầu xin xét xử vắng
mặt và có ý kiến như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Huỳnh B và bà Nguyễn Thị T quen biết, tìm
hiểu và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn. Vợ chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn không thể giải quyết, do không thể hàn gắn được nên ly thân. Nay, yêu cầu ly hôn với bà T.
Xét thấy, theo Giấy xác nhận số 106/GXN-UBND ngày 12/12/2023 của
Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, xác định không tìm thấy thông tin kết hôn giữa ông B và bà T nên có cơ sở xác định ông B và bà T chung sống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên căn cứ
Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, không công nhận ông B và bà T là vợ
chồng.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh năm 2001,
Nguyễn Vũ L, sinh 2004. Hiện 02 con chung đã thành niên nên không xét xét
giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 14
của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị: Không công nhận ông Nguyễn Huỳnh
B và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ông Nguyễn Huỳnh B khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
Đồng thời, bà T cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về
hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Huỳnh B và bà Nguyễn Thị T đã được triệu tập hợp lệ tham
gia phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử vắng mặt ông B, bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và
khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Huỳnh B và bà Nguyễn Thị T thống
nhất, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, ông B và bà T kết hôn vào năm 2001
nhưng không đăng ký kết hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, theo Giấy xác nhận số 106/GXN-UBND
ngày 12/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang, xác định không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn giữa ông B và bà
T nên có cơ sở xác định ông B và bà T chung sống nhưng không đăng ký kết
hôn.
Xét, ông B và bà T chung sống với nhau vào năm 2001. Mặc dù, có đủ
điều kiện kết hôn nhưng ông B và bà T không đăng ký kết hôn theo quy định
pháp luật. Vì vậy, không công nhận ông B và bà T là vợ chồng theo khoản 1
Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông B và bà T xác định trong thời gian chung sống,
ông B và bà T có sinh 02 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh năm 2001,
Nguyễn Vũ L, sinh 2004. Hiện 02 con chung đã thành niên nên Tòa án không
xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông B và bà T xác định không yêu
cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông B phải chịu án phí hôn nhân sơ
thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bà T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 53; các Điều 144, 147,
khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Huỳnh B và bà Nguyễn
Thị T là vợ chồng.
2. Về con chung: Do các cháu Nguyễn Văn Vũ L, Nguyễn Vũ L đã thành
niên, có khả năng nuôi sống bản thân nên không đề cập giải quyết việc nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Văn Vũ L, Nguyễn Vũ L.
3. Về án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Huỳnh B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014804 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 13 tháng 12 năm 2023; ông Nguyễn Huỳnh B đã nộp đủ án phí.
Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Ông Nguyễn Huỳnh B, bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo để yêu
cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - UBND xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Thúy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Thúy |