vanban.org

Bản án 283/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

BLHS xử phạt: Nguyễn Trung D 30 (ba mươi) tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2018.

ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? BLHS xử phạt: Nguyễn Trung D 30 (ba mươi) tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2018.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 283/2018/ HS-ST
Ngày 27 tháng 7 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quý My

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành;

2. Bà Trần Thị Lan Hương;

Thư ký phiên tò a : Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Ông Trần Anh Hiếu - Chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố

Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 262/2018/ HSST ngày 22 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275 /2018/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 7 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Trung D, sinh ngày 06/11/1984

ĐKHKTT: xóm Đ, xã S, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên . Quốc tịch: Việt

Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo : Không; Trình độ văn hóa : 9/12; Nghề nghiệp: không. Con ông Nguyễn Khánh H.A, sinh năm 1962 (đã chết); con bà Lê Minh H.I, sinh năm 1964. Gia đình có bị cáo là con duy nhất trong gia đình, có vợ là Nguyễn Thị H.O, sinh năm 1988; có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Người chứng kiến:

Ông Bùi Đình T, sinh năm 1956, vắng mặt;

HKTT: Tổ K, phường T, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ ngày 20/5/2018, tổ công tác của Công an phườ ng Tân Long , thành

phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 12, phườ ng Tân Long , thành phố Thái Nguyên thì phát hiện mô ̣t nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác tiếp cận, yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Nguyễn Trung D và tự giác lấy từ trong túi quần phia trướ c bên phải đang mă ̣c 01

́ gói nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng ; 01 gói nilon bên trong chứa 01 viên nén màu hồng và 01 gói nilon bên trong chứa chất bột màu hồng. D khai là ma túy mua để sử dụng cho bản thân . Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Trung D và thu giữ niêm phong vật chứng theo đúng quy định.

Ngày 21/5/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên

tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu hồng thu giữ của Nguyễn Trung D có khối lượng 0,209 gam, số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung D có khối lượng là 0,949 gam, viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Trung D có khối lượng 0,102 gam.

Hồi 09 giờ 20 phút ngày 21/5/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành

phố Thái Nguyên thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trung D , không phát hiện, thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số 682/KL-PC54 ngày 24/5/2018 của Phòng kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung D là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,949 gam; Viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Trung D là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,102 gam; Chất bột màu hồng thu giữ của Nguyễn Trung D là chất ma túy, loại Methamphetamine và Heroine, có khối lượng là: 0,209 gam.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Trung D khai nhận: Dũng là người nghiện ma

túy từ năm 2014 nên thườ ng xuyên đi mua ma túy để sử du ̣ng cho bản thân

. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 20/5/2018, Dũng đi xe buýt từ nhà ta ̣i xóm Đ , xã S, thành phố TH xuống khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ thuô ̣c tổ H, phường Q, thành phố TH mục đích mua ma túy để sử du ̣ng. Tại đây, D gă ̣p mô ̣t ngườ i đàn ông tên là T (D không biết rõ lai li ̣ch, đi ̣a chỉ) và mua của người này 500.000 đồng tiền ma túy đá , 100.000 đồng tiền Heroine và 200.000 đồng được 02 viên hồng phiến . Sau đó , D nghiền 01 viên hồng phiến và trô ̣n đều vào Heroine thành hỗn hợp chấ t bô ̣t màu hồng rồi cất số ma túy mua được vào túi quần phia trướ c bên phải để tim

́

̀ chỗ sử du ̣ng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi D đến khu vực tổ 12, phườ ng Tân Long, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an ph ường Tân Long, thành phố Thái Nguyên phát hiê ̣n bắt quả tang, thu giữ vâ ̣t chứ ng như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 267/CT-VKSTPTN ngày 19/6/2018, Viện Kiểm sát nhân

dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung D khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình

như lời khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình

bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS

xử phạt Nguyễn Trung D từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A, A2.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, Lời nói sau cùng bị cáo

đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra

Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm

tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ ngày 20/5/2018, tại khu vực tổ 12, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Trung D đang có hành vi tàng trữ 1,260 gam Methamphetamine và Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên

truy tố bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thuộc một trong các trường

hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng... của các chất đó tương

đương với khối lượng... chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho

xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, mà còn làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội, bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn lao vào con đường phạm tội, làm gia tăng tệ nạn ma túy ở địa phương phát triển. Hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, nghiện chất ma túy dẫn đến phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS.

Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử

không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu A, A2 cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy

định của pháp luật.

Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên được HĐXX chấp

nhận.

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ, Nguyễn Trung D khai mua của mô ̣t ngườ i

đàn ông tên T tại tổ H, phường Q, thành phố TH, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38

BLHS xử phạt: Nguyễn Trung D 30 (ba mươi) tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2018.

Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ

ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A, A2 bên trong có chứa ma túy.

(Biên bản giao nhận vật chứng số 290 ngày 19/6/2018 giữa Công an thành

phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên)

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ