- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng K-Lê Công C, Lê Văn H"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147,
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 282/2026/DS-ST Ngày: 18 -6-2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng kiêm Hợp đồng cầm cố tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tăng Giang Sơn;
2. Bà Lê Phạm Quế Chi
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ.
Ngày 18 tháng 6 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 366/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng kiêm Hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 602/2026/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 599/2026/QĐST- DS ngày 29 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.
Địa chỉ: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang).
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Chế Thị Ú – Giám đốc.
Địa chỉ: I, đường B, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Phương C – Quản lý cao cấp KHCN kiêm quản lý cao cấp QLCCKHDN.
(Văn bản ủy quyền số 68/QĐ-CT.HĐQT ngày 09/7/2024)
(Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn:
- Ông Lê Công C1, sinh năm 2000;
- Ông Lê Văn H, sinh năm 2007.
Cùng địa chỉ: Khu V B, phường P, thành phố Cần Thơ.
(Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đồng Minh T, sinh năm 1985.
̂
Địa chỉ: ấp T, phường O, thành phố Cần Thơ.
(Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 08/02/2017 ông Đồng Minh T được tiếp nhận làm cộng tác viên theo quyết định tiếp nhận số 405/QĐ-NHKL.
Ngày 08/02/2017, Ngân hàng TMCP K (gọi tắt K1) cùng ông Đồng Minh T ký kết Hợp đồng dịch vụ số 50/HĐDV-2017, đến ngày 08/02/2018 tiếp tục ký Hợp đồng dịch vụ số 37/HĐDV-2018.
Thời điểm gần nhất ngày 08/02/2020, Ngân hàng TMCP K (gọi tắt K1) cùng ông Đồng Minh T ký kết Hợp đồng dịch vụ số 43/HĐDV-2020 về việc tư vấn sản phẩm và giới thiệu khách hàng với nội dung:
"…Cộng tác viên thực hiện cung ứng dịch vụ cho K1 như sau:
a. Giới thiệu và tư vấn các sản phẩm cho vay theo quy định của K1 trong từng thời kỳ cho khách hàng có nhu cầu vay vốn tại K1.
b. Giới thiệu khách hàng và hỗ trợ thẩm định tín dụng và có nhu cầu vay vốn cho K1 và các Đơn vị trực thuộc…".
Phí dịch vụ cho hợp đồng này là: Theo quy định K1.
Theo đó ông Đồng Minh T là người tìm khách hàng vay vốn, trực tiếp thẩm định và đề xuất cho vay đồng thời cũng là người thu nợ đối với các hồ sơ mà ông T đề xuất cho vay và nộp lại tiền cho ngân hàng mỗi ngày. Ông T sẽ được nhận một khoản tiền là phí dịch vụ trên số tiền thu được từ các khoản vay trả góp (phí dịch vụ được tính theo quy định của K1 dựa trên từng hồ sơ).
Bên cạnh đó, ông Đồng Minh T còn cam kết dùng tài sản của mình để bảo đảm cho các hợp đồng tín dụng do ông Đồng Minh T thẩm định và đề xuất cho vay. Trong đó, nghĩa vụ được bảo đảm gồm có:
“- Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, tiền phạt và các khoản phí khác theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với Bên vay mà Bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng;
- Nghĩa vụ thanh toán, nộp cho Ngân hàng các khoản tiền mà Đồng Minh T thu được từ Bên vay nhưng không thanh toán, nộp cho Ngân hàng.
- Trường hợp giá trị tài sản cầm cố không đủ thực hiện nghĩa vụ cầm cố thì Bên A có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản khác.
- Các trường hợp khác mà ông Đồng Minh T không nộp tiền đúng hạn cho K1 – PGD Ô Môn hoặc theo các nội dung cam kết của ông Đồng Minh T phát sinh trước hoặc sau ngày giao kết hợp đồng”.
Nội dung và phạm vi bảo đảm nêu trên được thể hiện trong Hợp đồng cầm cố tài sản số 038/17/HĐCC-CTCG/0402-5893 ngày 14/02/2017 đã được ký kết giữa đại diện Ngân hàng TMCP K với ông Đồng Minh T. Tài sản cầm cố là:
Thẻ TGTK có kỳ hạn, mệnh giá 400.000.000 đồng phát hành ngày 02/12/2016 do K phát hành, thuộc sở hữu của ông Đồng Minh T.
Thực hiện các nội dung thỏa thuận nêu trên: Ông Đồng Minh T giới thiệu và thẩm định thủ tục xin cấp tín dụng của ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H, Ngân hàng TMCP K đồng ý cho ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Việc vay vốn của ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H được thể hiện cụ thể trong Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019 chi tiết như sau:
Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019:
- Số tiền vay: 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng).
- Mục đích vay: Tiêu dùng.
- Thời hạn vay: 150 ngày.
- Lãi suất vay: 16%/năm.
- Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tương ứng với thời hạn chậm trả (tức là 24%/năm).
Tài sản bảo đảm: Xe HONDA VISION, biển số 65E1-243.41.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nợ như nội dung trình bày tại đơn khởi kiện ngày 29/05/2025.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H vị phạm nghĩa vụ thanh toán nợ.
Tại thời điểm ngày 30/9/2022, Ngân hàng TMCP K đã trích số tiền từ sổ tiết kiệm của ông Đồng Minh T để trả nợ gốc cho ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H với số tiền 14.668.080 đồng. Ông Đồng Minh T thống nhất việc Ngân hàng trừ số tiền 14.668.080 đồng để trả nợ thay cho ông C1 và ông H. Do đó, Ngân hàng chỉ tính nghĩa vụ trả lãi trong hạn và lãi quá hạn đối với ông C1 và ông H. Tính đến ngày 18/6/2026, ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H đã thanh toán được tổng số tiền 37.655.228 đồng (trong đó nợ gốc là 35.331.920 đồng, lãi trong hạn: 2.323.308 đồng), ông C1 và ông H chỉ còn có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ như sau: Vốn gốc: 0 đồng, lãi trong hạn 964.392 đồng, lãi quá hạn: 8.626.065 đồng. Tổng công: 9.590.457 đồng.
Do đó, Ngân hàng TMCP K có thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện:
Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu bị đơn Lê Công C1 và Lê Văn H trả số nợ gốc 14.668.080 đồng.
Nay yêu cầu: Buộc ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2026 là 9.590.457 đồng. Vốn gốc: 0 đồng, lãi trong hạn 964.392 đồng, lãi quá hạn: 8.626.065 đồng.
Trường hợp ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không trả được hoặc trả không đủ thì yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mãi tài sản xe máy biển số Xe HONDA VISION, biển số 65E1-243.41, Trường hợp, tại thời điểm Thi hành án ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không hợp tác giao tài sản cầm cố hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự không xác minh được tài sản hoặc tài sản đã hư hỏng, thất thoát hoặc không còn giá trị sử dụng, hoặc đã phát mãi mà không thanh toán hết nợ thì ông Đồng Minh T có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ (nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn) mà ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H chưa thực hiện xong theo hợp đồng bảo đảm đã ký kết với Ngân hàng TMCP K.
Theo biên bản làm việc ngày 27/5/2026 ông Đồng Minh T trình bày:
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019, ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tại thời điểm ngày 30/9/2022, Ngân hàng TMCP K đã trích số tiền từ sổ tiết kiệm của ông Đồng Minh T để trả nợ gốc cho ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H với số tiền 14.668.080 đồng. Ông Đồng Minh T thống nhất việc Ngân hàng trừ số tiền 14.668.080 đồng để trả nợ thay cho ông C1 và ông H. Do đó, Ngân hàng chỉ tính nghĩa vụ trả lãi trong hạn và lãi quá hạn đối với ông C1 và ông H. Tính đến ngày 27/5/2026, ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H đã thanh toán được tổng số tiền 37.655.228 đồng (trong đó nợ gốc là 35.331.920 đồng, lãi trong hạn: 2.323.308 đồng), ông C1 và ông H chỉ còn có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ như sau: Vốn gốc: 0 đồng, lãi trong hạn 964.392 đồng, lãi quá hạn: 8.626.065 đồng. Tổng cộng: 9.590.457 đồng. Trường hợp ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không trả được hoặc trả không đủ thì yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mãi tài sản xe máy biển số Xe HONDA VISION, biển số 65E1-243.41, Trường hợp, tại thời điểm Thi hành án ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không hợp tác giao tài sản cầm cố hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự không xác minh được tài sản hoặc tài sản đã hư hỏng, thất thoát hoặc không còn giá trị sử dụng, hoặc đã phát mãi mà không thanh toán hết nợ thì ông Đồng Minh T có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ (nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn) mà ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H chưa thực hiện xong theo hợp đồng bảo đảm đã ký kết với Ngân hàng TMCP K.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Công C1, ông Lê Văn H và ông Đồng Minh T vắng mặt, vụ án không tiến hành hòa giải được. Nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sợ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp: Ngân hàng thương mại cổ phần K khởi kiện yêu cầu Lê Công C1 và ông Lê Văn H thanh toán dư nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019. Đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại phường P, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ theo quy định tại Điều 26, điểm Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, ông Đồng Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với ông C1 và ông H theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số: Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+ A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K với ông Lê Công C1 và Lê Văn H trên nguyên tắc tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật, lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó, hợp đồng trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Để đảm bảo cho khoản vay này thì giữ Ngân hàng TMCP K (Ngân hàng) với ông Lê Văn H có thỏa thuận Cầm cố tài sản là Xe HONDA VISION, biển số 65E1-243.41 thuộc quyền sở hữu của ông Lê Công C1 theo hợp đồng Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019. Bên cạnh đó, ông Đồng Minh T là công tác viên của Ngân hàng TMCP K có dùng tài sản của mình để đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng do ông T thẩm định và đề xuất cho vay (trong đó có hợp đồng vay của ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H), với tài sản là Thẻ TGTK có kỳ hạn, mệnh giá 400.000.000 đồng phát hành ngày 02/12/2016 do Phòng G phát hành, thuộc sở hữu của ông Đồng Minh T theo Hợp đồng cầm cố tài sản số 038/17/HĐCC-CTCG/0402-5893 ngày 14/02/2017. Các Hợp đồng này, được ký kết dựa trên nguyên tắc tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, các hợp đồng trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Tại khoản 2 Điều 5 của Hợp đồng cầm cố tài sản số 038/17/HĐCC-CTCG/0402-5893 ngày 14/02/2017: Bên B được toàn quyền chủ động xử lý tài sản cầm cố để thi hồi nợ vay, lãi vay và lãi quá hạn theo phương thức trích một phần hoặc toàn bộ số tiền trên giá trị tài sản cầm cố để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khách hàng theo các thỏa thuận đã ký kết giữa hai bên hoặc theo thông báo của bên B.
Trong quá trình vay nợ, ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 30/9/2022, Ngân hàng TMCP K đã trích số tiền từ sổ tiết kiệm của ông Đồng Minh T để trả nợ gốc cho ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H với số tiền 14.668.080 đồng là phù hợp với thỏa thuận nêu trên, ông Đồng Minh T cũng thống nhất việc Ngân hàng T1 đã trích số tiền từ sổ tiết kiệm của ông Đồng Minh T để trả nợ gốc cho ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H với số tiền 14.668.080 đồng.
Do đó, tính đến ngày 18/6/2026, ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H đã thanh toán được tổng số tiền 37.655.228 đồng (trong đó nợ gốc là 35.331.920 đồng, lãi trong hạn: 2.323.308 đồng), ông C1 và ông H chỉ còn có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ như sau: Vốn gốc: 0 đồng, lãi trong hạn 964.392 đồng, lãi quá hạn: 8.626.065 đồng. Tổng công: 9.590.457 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập nhiều lần, nhưng ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H vẫn vắng mặt không ký do, cũng như không có gửi cho Tòa án văn bản cùng các tài liệu chứng cứ chứng minh việc trả nợ cho ngân hàng
Nay, Ngân hàng TMCP K có thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2026 là 9.590.457 đồng. Vốn gốc: 0 đồng, lãi trong hạn 964.392 đồng, lãi quá hạn: 8.626.065 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Trường hợp ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không trả được hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản xe máy biển số Xe HONDA VISION, biển số 65E1-243.41 theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+ A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019.
Trường hợp, tại thời điểm Thi hành án ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không hợp tác giao tài sản cầm cố hoặc Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền không xác minh được tài sản hoặc tài sản đã hư hỏng, thất thoát hoặc không còn giá trị sử dụng, hoặc đã phát mãi mà không thanh toán hết nợ thì ông Đồng Minh T có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H chưa thực hiện xong theo Hợp đồng cầm cố tài sản số 038/17/HĐCC-CTCG/0402-5893 ngày 14/02/2017 đã ký giữa ông Đồng Minh T với Ngân hàng TMCP K.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu bị đơn Lê Công C1 và Lê Văn H trả số nợ gốc 14.668.080 đồng. Đây là sự tự nguyện của dương sự, nên đình chỉnh đối với yêu cầu này theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền phải thanh toán là 480.000 đồng (9.590.457 đồng x 5%). Nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147,
Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Các Điều 117, 119, 293, 309, 310, 311, 312, 315, 463, 466 Bộ luật Dân sự ; Các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K đối với bị đơn Lê Công C1 và Lê Văn H.
Buộc ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2026 là 9.590.457 đồng (Vốn gốc: 0 đồng, lãi trong hạn 964.392 đồng, lãi quá hạn: 8626.065 đồng).
Trường hợp ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không trả được hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản xe máy biển số Xe HONDA VISION, biển số 65E1-243.41 theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A944017+ A944053/HĐTD-CC ngày 01/12/2019.
Trường hợp, tại thời điểm thi hành án ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H không hợp tác giao tài sản cầm cố hoặc Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền không xác minh được tài sản hoặc tài sản đã hư hỏng, thất thoát hoặc không còn giá trị sử dụng, hoặc đã phát mãi mà không thanh toán hết nợ thì ông Đồng Minh T có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà ông Lê Công C1 và ông Lê Văn H chưa thực hiện xong theo Hợp đồng cầm cố tài sản số 038/17/HĐCC-CTCG/0402-5893 ngày 14/02/2017 đã ký giữa ông Đồng Minh T với Ngân hàng TMCP K.
Về án phi dân sự sơ thẩm: Bị đơn Lê Công C1 và Lê Văn H phải chịú 480.000 đồng (tròn số). Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K nhận lại 1.091.377 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008924 ngày 06/11/2025 theo biên lai số 0005458 ngày 26/3/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Cần Thơ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND Khu vực 2 - Cần Thơ; - Phòng THA Khu vực 2 - Cần Thơ; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |