vanban.org

Bản án 282/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 27/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Đà

Nẵng. Sửa một phần bản án sơ thẩm về vật chứng. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thou B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thou B - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Đà
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 282/2024/HS-PT

Ngày: 27/06/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Tồn Các thẩm phán: ông Trần Quốc Cường ô Đặng Kim Nhân - Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Mai, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Thou B. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. – Bị cáo bị kháng nghị: Thou B, sinh ngày 17 tháng 12 năm 1995 tại tỉnh Kan Đal, vương quốc Campuchia. Nơi thường trú: Làng P, phường B, tỉnh Ratanakiri, vương quốc C ( Thôn P, phường B, thành phố B, tỉnh Ratanakiri); nơi ở hiện tại: Làng Ô, phường B, tỉnh Ratanakiri, vương quốc Campuchia; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Campuchia; con ông Hem T (đã chết) và bà Lim L; có vợ là Khum Kim H (Khom Kimheng) và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/7/2023 và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Chị Khom K, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn C Piêm R, xã P, huyện L, tỉnh Kan Đal, vương quốc Campuchia. Vắng mặt. * Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Nguyễn Văn P; địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ ngày 17/7/2023, Thou B được một người phụ nữ tên thường gọi là “V” (là người Việt Nam; quen biết với Thou B khi người này làm ăn tại Campuchia) gọi điện thoại thông qua ứng dụng Messenger bằng tài khoản “Vi Tran” đến tài khoản của Thou B đăng ký tên “Thu B” với nội dung thuê Thou B chở pháo và thuốc lá điếu cho V từ thành phố B, tỉnh Ratanakiri, V Campuchia vào nước Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế L1, huyện Đ, tỉnh Gia Lai với tiền công thỏa thuận là 60.000 tiền Ria/01 thùng thuốc lá điếu (khoảng 330.000đ/01 thùng) và 150.000 tiền Ria/01 thùng pháo (khoảng 800.000đ/01 thùng) thì Thou B đồng ý. V nói sẽ có người mang pháo và thuốc lá đến giao cho Thou B và dặn Thou B khi vận chuyển sang Việt Nam thì phải cất giấu kỹ, nếu bị phát hiện sẽ bị thu giữ hết hàng và bị xử phạt hành chính. Sau khi qua khỏi Cửa khẩu L1 thì liên lạc với V để V đến nhận pháo, thuốc lá và trả tiền vận chuyển. Đến tối cùng ngày (Thou B không xác định lúc mấy giờ) thì có một người đàn ông tên V1 (Quốc tịch: Campuchia) đi xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) đến nhà của Thou B nói là người của V, rồi V1 gọi điện thoại cho ai không rõ, một lúc sau có người lái xe Taxi đến, bốc từ trên xe taxi xuống giao cho T4 41 hộp pháo hoa nổ và 3.000 bao thuốc lá điếu. T4 cất giấu 41 (bốn mươi mốt) hộp pháo hoa nổ và 3.000 bao thuốc lá điếu vào hầm độ chế dưới sàn của xe ô tô loại 16 chỗ, mang biển kiểm soát Campuchia 2A-0456, màu sơn Trắng của Thou B. Đến khoảng 9 giờ ngày 18/7/2023, Thou B điều khiển xe ô tô trên đi từ phường B, thành phố B, tỉnh Ratanakiri, Vương quốc C đến nước Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế L1. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi xe ô tô do Thou B điều khiển đi đến Trạm liên hợp Cửa khẩu Quốc tế L1 thuộc thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Chi Cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế L1, Đồn Biên phòng Cửa Khẩu Quốc tế L1 và Công an huyện Đ yêu cầu dừng xe để kiểm tra phát hiện có vận chuyển hàng cấm là pháo và thuốc lá nên đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng, đồ vật gồm: - 41 hộp giấy kín, có kích thước tương đồng khoảng (17x17x10)cm, trong đó có: 29 hộp giấy kín giống nhau bên ngoài dán giấy màu, in hình ảnh nhiều màu sắc khác nhau, có ký hiệu “KS4-4911L” “BILLION LIVE” và các ký tự nước ngoài khác; 12 hộp giấy kín giống nhau, bên ngoài dán giấy màu, in hình ảnh nhiều màu sắc khác nhau, có ký hiệu “KS4-4911L” “BILLION TIME E”.

- 3.000 bao thuốc lá điếu, trong đó gồm: 1.000 bao thuốc lá điếu loại ESSE CHANGE; 1.000 bao thuốc lá điếu loại ESSE Menthol; 500 bao thuốc lá điếu loại ESSE Classic; 500 bao thuốc lá điếu loại JET. - 01 (Một) xe ô tô loại 16 chỗ, màu sơn Trắng, biển kiểm soát Campuchia: 2A-0456 của vợ chồng Thou B đã mua lại của ông Sar S (42 tuổi; trú tại xã M, thành phố P, tỉnh Prey Veng, V Campuchia) nhưng chưa sang tên chủ sở hữu (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động). - 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen và 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A54 của Thou B. - 01 (một) thẻ nhựa có dán hình ảnh của Thou B, ghi số 240085062 (Chứng minh nhân dân của Thou B). - 01 (một) tờ giấy A5 có ghi nội dung bằng chữ nước ngoài và chữ của Việt Nam, trong đó có nội dung “GIẤY THÔNG HÀNH 079”; “Cấp tại R, Ngày 18 tháng 07 năm 2023”, có đóng dấu tròn màu đỏ được phép tạm trú đến ngày 16/8/2023. Qua trích mẫu và giám định số pháo thu giữ, tại Bản kết luận giám định số 645/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận: 41 hộp giấy kín, gồm: 29 hộp giấy kín giống nhau bên ngoài dán giấy màu, in hình ảnh nhiều màu sắc khác nhau, có ký hiệu “KS4-4911L” “BILLION LIVE” và các ký tự nước ngoài khác; 12 hộp giấy kín giống nhau, bên ngoài dán giấy màu, in hình ảnh nhiều màu sắc khác nhau, có ký hiệu “KS4-4911L” “BILLION TIME E” được niêm phong trong 03 bao tải là pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 64,2kg. Số pháo còn lại sau giám định có tổng khối lượng: 54,9 kg. Đối với số thuốc lá, tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên các loại thuốc lá điếu trong số 3.000 bao thuốc lá điếu đã thu giữ và trưng cầu giám định nguồn gốc, chủng loại và xuất xứ của mẫu thuốc lá gửi giám định.Tại Bản kết luận giám định số 1580/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại tỉnh Gia Lai kết luận: 30 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu JET; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc là điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất); 30 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE Classic; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE Classic; không phải là thuốc là điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất); 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE CHANGE; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE CHANGE; không phải là thuốc là điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất); 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE Menthol; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE Menthol; không phải là thuốc là điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất). Số thuốc lá còn lại sau trích mẫu giám định là: 950 bao thuốc lá điếu loại ESSE CHANGE; 950 bao thuốc lá điếu loại ESSE Menthol; 470 bao thuốc lá điếu loại ESSE Classic; 470 bao thuốc lá điếu loại JET.

Đối với xe ô tô loại 16 chỗ, màu sơn Trắng, biển kiểm soát Campuchia: 2A-0456, qua điều tra T4 khai xe này là của vợ chồng Thou B đã mua lại của ông Sar S (42 tuổi; trú tại xã M, thành phố P, tỉnh Prey Veng, V Campuchia) nhưng chưa sang tên chủ sở hữu Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của Thou B mà Thou B dùng liên lạc với người tên “Vi”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đề nghị Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh G phối hợp khai thác thông tin, dữ liệu điện tử. Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh G xác định: “Trích xuất nội dung tin nhắn thông qua Messenger của tài khoản “Vi Tran” từ điện thoại di động Iphone 12 Promax không thu được nội dung dữ liệu. Điện thoại OPPO A54 không có cài đặt Messenger nên không thu giữ được nội dung tin nhắn Mesenger”. Đối với người tên “V” gọi điện thoại thuê Thou B vận chuyển thuốc lá và pháo thông qua ứng dụng Messenger bằng tài khoản “Vi Tran”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành xác minh và tổ chức nhận dạng qua hình ảnh để xác định đối tượng có tài khoản Facebook “Vi Tran”. T4 xác định được ảnh của Trần Thị Vi P1 (sinh năm 1979; trú tại: thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) là người đã gọi điện thoại bằng tài khoản Facebook “Vi Tran” để thuê Thou B chở thuốc lá và pháo từ thành phố B, Vương quốc Campuchia sang Việt Nam, Thou B xác định đã gặp người này nhiều lần tại thành phố B và Thou B với người này cũng hay liên lạc với nhau qua mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên, qua lấy lời khai, P1 khai Tài khoản Facebook “Vi Tran” là của P1 nhưng từ khoảng tháng 5/2023 đến nay P1 không sử dụng tài khoản Facebook “Vi Tran” vì bị mất điện thoại, hiện không sử dụng điện thoại thông minh (Smart phone), không quen biết ai có tên Thou B, có tài khoản Facebook “Thu B1”. Cơ quan điều tra tiến hành cho đối chất giữa P1 và Thou B nhưng không có kết quả. Tại cáo trạng số 12/CT-VKSGL-P1 ngày 10/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Thou B về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm e, g, k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thou B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 2. Về hình phạt: Căn cứ e, g, k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thou B 3 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/7/2023. 3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: * Tịch thu tiêu hủy:

- 02 (Hai) bao xác rắn màu xanh có các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh t, Trần Đình N và Hồ Ngọc T1; - 04 (Bốn) bao xác rắn màu xanh có các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA” và các chữ ký ghi họ tên Lê Anh T2, Hồ Ngọc T1, Võ Văn D và Lê Thị Hồng T3; * Tịch thu sung ngân sách nhà nước: - 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen; - 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A54 (Bị vỡ màn hình); * Trả lại cho bị cáo Thou B và vợ bị cáo là chị Khom K: 01 (Một) xe ô tô loại 16 chỗ, màu sơn Trắng, biển kiểm soát Campuchia: 2A-0456 xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động; * Trả lại cho bị cáo Thou B: 01 (một) thẻ nhựa có dán hình ảnh của Thou B, ghi số 240085062 (Chứng minh nhân dân của Thou B). Các vật nêu trên có đặc điểm ghi tại biên bản giao nhận vật chứng số 83/2024 lập ngày 05/03/2024 giữa Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Tạiu Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 24/QĐ-VC2 ngày 22/04/2024, Viện trưởng Viện Viểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tịch thu xsung công quỹ Nhà nươc xe ô to biển kiểm sát Campuchia: 2A -0456 của bị cáo Thou B và vợ bị cáo Khom K. Tại phiên toà phúc thẩm: Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà nẵng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận quyết định kháng nghị phúc thẩm số 24/QĐ-VC2 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Sửa bản án sơ thẩm số 25/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. [2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thì thấy: Khoảng 13 giờ, ngày 18/7/2023, tại Trạm liên hợp Cửa khẩu Quốc tế L1 thuộc thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, qua kiểm tra lực lượng

chức năng phát hiện trên xe ô tô loại 16 chỗ, màu sơn Trắng, biển kiểm soát Campuchia: 2A-0456 do Thou B điều khiển đi từ phường B, thành phố B, tỉnh Ratanakiri, Vương quốc C đến nước Việt Nam có vận chuyển hàng cấm gồm: 41 hộp giấy kín, có kích thước tương đồng khoảng (17x17x10)cm; - 3.000 bao thuốc lá điếu các loại. Qua giám định xác định: 41 hộp giấy kín là pháo hoa nổ, có tổng khối lượng là 64,2kg và 3.000 bao thuốc lá điếu không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Thou B về tội “Vận chuyển hàng cấm” với các tình tiết định khung “Thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao”; “Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam” và “Vận chuyển qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu” theo điểm e, g, k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. [2] Về vật chứng: Đối với: 01 xe ô tô loại 16 chỗ, màu sơn Trắng, biển kiểm soát Campuchia: 2A-0456 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động) là tài sản hợp pháp của vợ chồng bị cáo. Đây là phương tiện vận chuyển hàng cấm vào lãnh thổ Việt Nam, nhưng cấp sơ thẩm trả lại xe ô tô cho vợ chồng bị cáo là không có căn cứ nên cần tịch thu sung công. Vì vậy chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát về vật chứng. [3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 106 của BLTTHS. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Đà Nẵng. Sửa một phần bản án sơ thẩm về vật chứng. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thou B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 2. Về hình phạt: Căn cứ e, g, k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thou B 3 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/7/2023. 3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu bán thành lý sung công: 01 (Một) xe ô tô loại 16 chỗ, màu sơn Trắng, biển kiểm soát Campuchia: 2A-0456 xe đã qua sử dụng, (không kiểm tra tình trạng hoạt động) của vợ chồng bị cáo Thou B và Khom K. 4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo Thou B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ