- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hồng P phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trương Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TH NH PH H CH MINH Bản án số: 282/2023/HSST Ngày: 13/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH H H CH MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Dương
2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đ i di n Vi n ki m s t nh n d n huy n C Chi Thành ph Hồ Ch Minh: Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07/11/2023 và 13/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 235/2023/HSST, ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2023/QĐXXST-HS ngày 23/10/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Hồng P; Sinh năm 1977; Nơi sinh: Tỉnh Bình Phước; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 73, đường K2, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: Số 73, đường K2, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Trương Văn L và bà Nguyễn Thị D; Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em ruột có 05 người, kể cả bị cáo; Bị cáo có chồng đã ly hôn và có 03 con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 21/7/2023 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Dương Quốc B, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số 49/13/1, đường 95, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số 1812, tỉnh lộ 08, ấp 02, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Người làm chứng:
1/ Ông Trần Minh T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ 12A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
2/ Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số 53, đường H, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 01 năm 2022, anh Dương Quốc B quen biết với Trương Hồng P qua ứng dụng FaceBook với tài khoản tên “Trương Hồng P”, anh B và P thường trò chuyện với nhau bằng ứng dụng Zalo. Sáng ngày 16 tháng 3 năm 2023, anh B điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2-809.76 đến gặp P tại khu vực gần cầu Phú Cường, đường Tỉnh lộ 8, thuộc xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh. Khi gặp P, anh B điều khiển xe mô tô trên chở P đến nhà bạn của anh B thuộc ấp X, xã T, huyện C, TP. Hồ Chí Minh để uống rượu. Sau đó, anh B điều khiển xe mô tô trên chở P đến thuê phòng số 06 của khách sạn Mộng Thúy thuộc ấp Xóm Đồng, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh, cả 02 tự nguyện quan hệ tình dục với nhau được 02 lần. Sau khi quan hệ tình dục xong, P hỏi xin anh Bảo 3.000.000 đồng nhưng anh B không đồng ý. Anh B chỉ đồng ý cho Phương 200.000 đồng và nói tiền trong bóp, P tự lấy. Lợi dụng lúc anh B ngủ say, P lén lút chiếm đoạt của anh B các tài sản gồm: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2-809.76 cùng 01 giấy đăng ký xe của xe mô tô biển số: 5972-809.76 do anh B đứng tên chủ sở hữu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng bộ nhớ trong 32GB, màu hồng; 01 đồng hồ hiệu Seiko; 01 áo khoác nam bằng vải, màu nâu, dài tay và 01 kính mắt có độ, gọng kính bằng kim loại màu vàng. Sau khi, lấy được tài sản Phương đem cầm chiếc xe cùng giấy đăng ký xe mô tô và điện thoại di động của anh B tại cửa hàng cầm đồ “Long Ngọc Phát 2” thuộc ấp 2, xã Hòa Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chi Minh với giá 10.000.000 đồng do ông Trần Văn H làm chủ. Sau khi anh B tỉnh dậy, phát hiện bị mất tài sản nêu trên. Nghi ngờ P là kẻ trộm cắp tài sản, anh B đến Công an xã Tân Phú Trung trình báo.
Thu giữ vật chứng:
- Thu giữ từ Trương Hồng P: 01 mắt kính gồm tròng kính trong suốt, bằng thủy tinh, gọng kính bằng kim loại màu vàng (đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu).
- Thu giữ của Trần Văn H: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2- 809.76; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số: 107403, tên chủ xe Dương Quốc B, xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số: 59Y2-809.76 (đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu).
Kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS, ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi có kết luận như sau:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2-809.76 số máy: G3D4E226349 và số khung: RLCUG0610GY213441 có trị giá: 20.000.000 đồng; 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng bộ nhớ trong 32GB, màu hồng có trị giá: 1.5000.000 đồng; 01 Đồng hồ hiệu Seiko, mặt tròn, màu trắng có trị giá: 500.000 đồng; tổng số giá trị tài sản được định giá là: 22.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 179/KL-HĐĐGTS, ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi có kết luận như sau: 01 mắt kính tròng kính bằng thủy tinh không màu, sử dụng cho mắt bị viễn thị mỗi bên mắt 0,75 độ, gọng kính bằng kim loại màu vàng, có thể gấp đôi lại được có trị giá: 400.000 đồng; 01 áo khoác màu nâu xám, dài tay không rõ nhãn hiệu có trị giá: 100.000 đồng; tổng số giá trị tài sản được định giá là: 500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà Trương Hồng P chiếm đoạt là: 22.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 228/CT-VKS.CC ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Trương Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo vì mong muốn có tiền tiêu xài và đánh bạc mà đã có hành vi lén lút, lợi dụng chủ sở hữu đang ngủ say, thiếu cảnh giác để chiếm đoạt tài sản có giá trị tổng cộng là 22.500.000đ (hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Hồng P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo và gia đình đã khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù giam.
- Về vật chứng vụ án:
+ Đối với: 01 mắt kính gồm tròng kính trong suốt, bằng thủy tinh, gọng kính bằng kim loại màu vàng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2- 809.76; 01 giấy chứng nhận đang ký xe số: 107403, tên chủ xe Dương Quốc B, xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số: 59Y2-809.76; đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
+ Đối với: 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng bộ nhớ trong 32GB, màu hồng; 01 Đồng hồ hiệu Seiko, mặt tròn; 01 áo khoác màu nâu xám, dài tay không rõ nhãn hiệu; Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi đã thông báo truy tìm đến nay chưa có kết quả.
- Về phần trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình đã khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu vấn đề gì thêm; đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo nói lời nói sau cùng là xin hội đồng xét xử lượng hình giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ: Lợi dụng mối quan hệ quen biết qua mạng xã hội, vào ngày 16 tháng 3 năm 2023, sau khi đi uống rượu chung với ông B, bị cáo và ông B đã tự nguyện đến thuê phòng số 06 của khách sạn Mộng Thúy thuộc ấp Xóm Đồng, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh để quan hệ tình dục với nhau được 02 lần. Sau khi quan hệ tình dục xong, lợi dụng ông B ngủ say, thiếu cảnh giác, bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của ông B gồm: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2-809.76 cùng 01 giấy đăng ký xe của xe mô tô biển số: 5972-809.76 do ông B đứng tên chủ sở hữu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng bộ nhớ trong 32GB, màu hồng; 01 đồng hồ hiệu Seiko; 01 áo khoác nam bằng vải, màu nâu, dài tay và 01 kính mắt có độ, gọng kính bằng kim loại màu vàng.
Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận tài sản bị chiếm đoạt có giá trị tổng cộng là 22.500.000đ (hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Hồng P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội
Bị cáo nhận thức được việc xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích muốn chiếm hữu tài sản để có tiền tiêu xài và đánh bạc mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[4] Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo cùng gia đình đã khắc phục, bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho bị hại là ông B số tiền 5.000.000đ, ông Bảo không yêu cầu vấn đề gì thêm; nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông H 12.000.000đ, ông H không yêu cầu vấn đề gì thêm; nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về vật chứng:
+ Đối với: 01 mắt kính gồm tròng kính trong suốt, bằng thủy tinh, gọng kính bằng kim loại màu vàng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2- 809.76; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số: 107403, tên chủ xe Dương Quốc B, xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số: 59Y2-809.76; đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu; Hội đồng xét xử ghi nhận.
+ Đối với: 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng bộ nhớ trong 32GB, màu hồng; 01 Đồng hồ hiệu Seiko, mặt tròn; 01 áo khoác màu nâu xám, dài tay không rõ nhãn hiệu; Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi đã thông báo truy tìm đến nay chưa có kết quả.
[8] Đối với ông Trần Văn H là chủ tiệm cầm đồ Long Ngọc Phát 2 (ấp 2, xã Hoà Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh) nhận cầm của bị cáo 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số: 59Y2- 809.76, 01 giấy chứng nhận đang ký xe số: 107403, tên chủ xe Dương Quốc B, xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số: 59Y2-809.76 và 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 7. Ông H không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có được nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông H. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã ra công văn đề nghị Đội Cảnh sát QLHC về TTXH Công an huyện Củ Chi xử phạt hành chính đối với hành vi của ông Hoàn; Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.
[8] Xét cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Trương Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trương Hồng P 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2023.
[2] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016
của
Ủy
ban
Thường
vụ
Quốc
hội; Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tp. Hồ Chí Minh;
THẨM HÁN – CHỦ T A HI N TÒA
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- VKSND huyện Củ Chi;
- Công an huyện Củ Chi;
- Chi cục THADS huyện Củ Chi;
- Bị cáo;
- Lưu: Vp, hồ sơ. (20b)
Hà Th Xuân an
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Phòng PC 27; - Bị cáo; - Lưu: Vp, hồ sơ. (20b) | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM HÁN – CHỦ T A HI N TÒA Hà Th Xuân an |