vanban.org

Bản án 282/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dƣơng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng B 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2023. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 282/2023/HS-ST
Ngày 06-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 267/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 410/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Dƣơng B, sinh năm 1989 tại tỉnh Quảng Ngãi; thƣờng tr : Thôn V, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: Số E đƣờng N, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ h c vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Dƣơng M, sinh năm không rõ và bà Ngô Thị D, sinh năm không rõ; có 02 em ruột, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 cho đến nay; có m t.

- Bị hại: Chị Lê Thị Thúy D1, sinh năm 1993; thƣờng trú: Ấp G, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Đƣờng N, KCN T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng m t.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989; thƣờng trú: Số A đƣờng Ố, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng m t.

2. Anh Bùi Văn D2, sinh năm 1989; thƣờng trú: Số A đƣờng N, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng m t.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn L; vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Dƣơng Bảo làm nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH N (g i tắt Công ty N) có địa chỉ tại số I đƣờng N, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, đƣợc Công ty N phân công trực mục tiêu tại cổng bảo vệ và giữ xe cho công nhân mới đến xin việc làm tại Công ty N.

Khoảng 07 giờ 30 ph t ngày 09/5/2023, Dƣơng B đang trực bảo vệ tại Công ty N thì chị Lê Thị Th y D1 điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 68D1-548.10 đến Công ty N thử việc và dựng xe bên ngoài nhà xe của Công ty N và có để 01 sợi dây chuyền, 01 đôi bông tai, 01 nhẫn bằng vàng 18k trong 01 hộp nhựa màu đỏ rồi bỏ vào t i áo khoác màu vàng, chị D1 cất chiếc áo khoác vào trong cốp xe mô tô của chị D1, sau đó chị D1 đi làm. Khoảng 14 giờ 20 ph t cùng ngày do thiếu tiền tiêu xài nên B quan sát không thấy ai để ý, B đi đến chỗ để xe mô tô của chị D1 rồi dùng tay trái nâng yên xe lên, tay phải thò vào trong cốp xe lục tìm tài sản, B lấy đƣợc 01 cái áo khoác màu vàng ra khỏi cốp xe rồi tìm bên trong t i áo khoác thì phát hiện có 01 hộp nhựa màu đỏ, bên trong có 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18k, 01 đôi bông tai hoa mai bằng vàng 18k, 01 chiếc nhẫn đồng tiền bằng vàng 18k, l c này B lấy số tài sản trên cất giấu vào trong t i quần phía trƣớc bên trái, rồi B bỏ cái áo khoác lại trong cốp xe, sau đó B tiếp tục trực bảo vệ nhƣ bình thƣờng. Đến 18 giờ 00 ph t cùng ngày, chị D1 đi làm về khi về đến phòng tr chị D1 mở cốp xe ra lấy áo khoác ra kiểm tra thì phát hiện số vàng trong t i bị mất. Chị D1 nghi ngờ bị mất tại công ty N nên chị chạy lại công ty để tìm và hỏi bảo vệ rồi vào trong kiểm tra nhƣng không thấy. Đến khoảng 19 giờ 00 ph t ngày 12/5/2023, Dƣơng B mang số vàng chiếm đoạt đƣợc của chị D1 bán cho anh Bùi Văn D2 tại tiệm vàng “Kim Thành D3” địa chỉ số A đƣờng N, khu phố C phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, đƣợc tổng số tiền 6.000.000 đồng, số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 16/5/2023 Dƣơng B đang trực bảo vệ thì chị Lê Thị Th y D1 nhờ công ty N kiểm tra camera, khi kiểm tra phát hiện B là ngƣời chiếm đoạt tài sản của chị D1. L c này, chị D1 báo cho Công an phƣờng T đến mời Dƣơng B về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan Công an, Dƣơng B đầu th và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Căn cứ bản kết luận định giá số: 80/BBĐG-HĐĐGTS ngày 22/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng vàng 18k, tr ng lƣợng 1,234 chỉ, trị giá 4.780.000 đồng; 01 (một) đôi bông tai hoa mai bằng vàng 18k, tr ng lƣợng 5,33 phân, trị giá 2.140.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn đồng tiền bằng vàng 18k, tr ng lƣợng 2,05 phân, trị giá 1.250.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 8.170.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 80/BBĐG-HĐĐGTS ngày 22/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D- Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Đối với anh Bùi Văn D2 mua số vàng do Dƣơng B chiếm đoạt, không biết số vàng này do B phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý và đối với số vàng mà bị có bán cho anh Bùi Văn D2 tại tiệm vàng “Kim Thành D3”, số vàng này đã nấu để phân kim, nên không thu hồi đƣợc. Tại cáo trạng số: 279/CT – VKS - DA ngày 28 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Dƣơng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dƣơng B với mức hình phạt từ 07 (bảy) đến 10 (mƣời) tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án có tổng giá trị 8.170.00 đồng, bị cáo Dƣơng B đã bồi thƣờng xong cho bị hại Lê Thị Th y D1, bị hại D1 không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đ t ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát, đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 14 giờ 20 ph t ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại Công ty TNHH N địa chỉ số I đƣờng N, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Dƣơng B có hành vi lén l t chiếm đoạt của chị Lê Thị Th y D1 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18k, tr ng lƣợng 1,234 chỉ, trị giá 4.780.000 đồng; 01 đôi bông tai hoa mai bằng vàng 18k, tr ng lƣợng 5,33 phân, trị giá 2.140.000 đồng; 01 chiếc nhẫn đồng tiền bằng vàng 18k, tr ng lƣợng 2,05 phân, trị giá 1.250.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt 8.170.000 đồng.

Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo lén l t chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 8.170.000 đồng của bị hại, đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 279/CT – VKS - DA ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đ ng ngƣời, đ ng tội và đ ng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm tr ng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho bị hại; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm tr ng đồng thời sau khi phạm tội bị cáo đầu th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự và ngƣời lao động nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm tr ng, xâm phạm đến tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án có tổng giá trị 8.170.00 đồng, bị cáo Dƣơng B đã bồi thƣờng xong cho bị hại Lê Thị Th y D1, bị hại D1 không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Đối với anh Bùi Văn D2 mua số vàng do Dƣơng B chiếm đoạt, không biết số vàng này do B phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là đ ng theo quy định của pháp luật và đối với số vàng mà bị có bán cho anh Bùi Văn D2 tại tiệm vàng “Kim Thành D3”, số vàng này đã nấu để phân kim, nên không thu hồi đƣợc nên không đ t ra xem xét.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo cũng nhƣ trách nhiệm dân sự là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Dƣơng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dƣơng B 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2023.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Dƣơng B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c tống đạt bản án hợp lệ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ