- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Thanh T - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặ sử dụng trái phép chất ma…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 170/2019/NQ-HĐND V/v Quy định giá dịch vụ khám…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 282/2022/HS-ST Ngày 05/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Phước
2. Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố T, Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Thành phố H tham gia
phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 221/2022/TLST/HSST
ngày 22 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
311/2021/QĐXXST-HS ngày 22tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Lê Thanh T, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú: 549/1 Đường N, Phường M, quận B, Thành phố H; Chỗ ở: Không
có nơi cư trú ổn định ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Không; Cha: Lê
Phương H, sinh năm 1973; Mẹ: Huỳnh Thị H, sinh năm 1966; Vợ: Nguyễn Thị
KH H, sinh năm 1997 (chưa đăng ký kết hôn); Con: Bị cáo có 02 con sinh năm
2019; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Tại bản án số 176/2014/HSST ngày 15/5/2014 của Tòa án nhân dân
quận Thủ Đức xử phạt Lê Thanh T 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
và “Chống người thi hành công vụ”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày
21/11/2015.
- Tại bản án số 41/2017/HSST ngày 23/02/2017 của Tòa án nhân dân
quận Bình Thạnh và bản án hình sự phúc thẩm số 213/2017/HSPT ngày
18/5/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt Lê Thanh T 03 năm tù về
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày
25/12/2018.
- Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc số 170/2019/QĐ-TA ngày 20/05/2019 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh buộc Lê Thanh T chấp hành Cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phước Bình thời gian 18 tháng, Chấp hành xong ngày 01/9/2020; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 04/01/2022 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thanh T nghiện ma túy tổng hợp từ năm 2013. Vào khoảng 11 giờ
ngày 04/01/2022, T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59S2-007.14 đến đường NGT, Quận M, Thành phố H mua túy của người phụ nữ tên là H quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) để sử dụng. Tại đây đối tượng H bán cho T 07 (bảy) gói nylon chứa ma túy tổng hợp đựng trong 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được dán kín 02 đầu với giá 800.000 đồng. T cất giấu số ma túy này vào bóp da màu đen rồi để trong túi quần Jean phía sau bên phải của T đang mặc, điều khiển xe đi về phường H. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59S2- 007.14 mang theo ma túy mới mua được đến gần trước nhà số 325/6 KVC, Khu phố S, phường H thì bị lực lượng Công an Phường yêu cầu dừng xe để kiểm tra, T xuống xe bỏ chạy bộ vào hẻm số 325, khi đến trước nhà số 325/17/1 KVC, Khu phố S, phường H thì bị lực lượng Công an Phường giữ được T đưa về trụ sở Công an Phường H làm việc. Tại trụ sở công an Phường, qua kiểm tra hành chính, Công an Phường phát hiện thu giữ trong túi quần Jean phía sau bên phải T đang mặc có một bóp da màu đen, ngăn bên trong có 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được dán kín 02 (hai) đầu, có 07 (bảy) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu. T khai tinh thể không màu trong 07 gói nylon là ma túy tổng hợp do T mới mua để sử dụng nên Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ mẫu vật, niêm phong vật chứng để trưng cầu giám định.
Ngoài ra, Công an Phường còn thu giữ trên đường trước nhà số 325/6
KVC, Khu phố S, phường H, gần vị trí T bỏ chạy 04 (bốn) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu nhưng T khai không phải của T và T không biết của ai.
Kết quả xét nghiệm ma túy, T dương tính với ma túy loại
Methamphetamine và Amphetamine.
Căn cứ Kết luận giám định số 458/KLGĐ-MT ngày 12/01/2022 của
phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố H kết luận:
- Tinh thể không màu trong 07 gói nylon thu giữ trong người của T là ma
túy ở thể rắn loại methamphetamine khối lượng 2,5930g.
- Tinh thể không màu trong 04 (bốn) gói nylon được thu giữ trên mặt
đường gần vị trí của T bỏ chạy là ma túy ở thể rắn loại methamphetamine khối lượng 9,7721g .
Căn cứ Kết luận giám định đường vân số 512/C09B ngày 15/2/2022 của
Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không phát hiện dấu vết đường vân
trên 07 gói nylon, 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và gói nylon (thu giữ trên
đường).
Căn cứ Kết luận giám định dấu vết sinh học ADN số 511/KL-KTHS ngày
01/3/2022 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Không phân
tích được kiểu gen hoàn chỉnh trên 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và các túi
nylon gửi giám định. Không đủ cơ sở truy nguyên cá thể từ các kiểu gen này.
Tại Công an Phường và Cơ quan điều tra, Lê Thanh T khai nhận hành vi
phạm tội như nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong bên ghi vụ số 458/KLGĐ-MT, có chữ ký giám định
viên Nguyễn Xuân Sang, bên trong:
Gói 1: Là ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định có khối
lượng 2,060g (thu giữ T)
Gói 2: Là ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định có khối
lượng 9,059g (thu giữ trên đường) .
- 01 điện thoại di dộng hiệu Sony màu đen có số thuê bao 0765544506, số
IMEI: 355106100904412.
- 01 bóp da màu đen.
- 01 Xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59S2- 007.14, số khung:
P10EY-388505, số máy 55P1-388511. Kết quả xác minh xe mô tô này do anh
Hồ Đắc Vũ K ( sinh năm: 1987, Nơi thường trú: 160/12/2 BĐT, phường M,
quận B, Thành phố H) là chủ sở hữu chiếc xe trên. Vào khoảng tháng 3/2019 -
4/2019, anh K bị mất trộm chiếc xe trên tại khu vực kho bãi xe trên đường C,
phường P, thành phố P, tỉnh L. Bị can T khai nhận chiếc xe trên mua tại cửa
hàng xe gắn máy cũ Chí D số 649 PVT, phường B, quận V, Thành phố H với số
tiền 17.500.000 đồng, có giấy bán xe của cửa hàng và chưa làm thủ tục sang tên.
Anh Hồ Văn D (sinh năm: 1989, Nơi thường trú: Thôn P – E – tỉnh Đ, Nơi ở
hiện nay: 399 HHG, phường X, Quận M, Thành phố H) là chủ cửa hàng xe gắn
máy cũ Chí D. Anh Dũng khai nhận anh T có mua chiếc xe trên tại cửa hàng và
nguồn gốc chiếc trên thì anh Dũng không nhớ rõ của ai vì bản thân anh chuyên
mua bán xe máy cũ rất nhiều và do lúc vận chuyển đồ đạc giấy tờ liên quan đến
chiếc xe trên bị thất lạc. Ngày 07/4/2022 và ngày 26/5/2022, Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an thành phố T, gửi công văn số 1186 cùng phiếu chuyển nguồn
tin vụ trộm cắp xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59S2- 007.14 của anh K
đến Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh L để phối hợp tiếp nhận vật
chứng xác minh, điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 09/6/2021, Viện kiểm sát nhân
dân thành phố T đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu ý kiến giữ nguyên
quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã
được sửa đổi bổ sung năm 2017, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Về phần vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp
luật.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình
phạt cho các bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thanh T phù hợp với các tài liệu chứng cứ
đã thu thập được, có căn cứ xác định: Bị cáo Lê Thanh T là đối tượng nghiện ma túy nên vào 11 giờ ngày 04/01/2022, bị cáo đã mua của H (không rõ lai lịch) ở Quận 10, Thành phố H 07 (bảy) gói lynon chứa ma tuý tổng hợp với giá 800.000 đồng. T đã cất giấu số ma túy vào bóp da màu đen để trong túi quần Jean đang mặc điều khiển xe mô tô đến gần trước nhà số 325/6 KVC, Khu phố S, phường H thì bị bắt quả tang, thu giữ chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,5930g loại Methamphetamine. Bị cáo khai mục đích mua ma túy là để sử dụng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Lê Thanh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong
quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương
nên cần phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục bị cáo và răng đe phòng ngừa
chung cho xã hội.
. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu lại tiếp
tục phạm tội nên sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình
phạt mà lẽ ra bị cáo pH chịu.
Đối với đối tượng tên H (phụ nữ) đã bán số ma túy nói trên cho bị cáo T,
hiện chưa xác định nhân thân và lai lịch đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra
xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định có khối
lượng 2,060gram (thu giữ T) là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ
- 01 điện thoại di động hiệu Sony màu đen có số thuê bao 0765544506, số
IMEI: 355106100904412 là phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách
nhà nước.
- 01 bóp da màu đen là phương tiện cất giữ ma túy, không còn giá trị sử
dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59S2 – 007.14, số
khung: P10EY-388505, số máy 55P1-388511. Cơ quan cảnh sát điều tra Công
an thành phố T đã bàn giao chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59S2 –
007.14 cho Công an thành phố P, tỉnh L theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài
liệu, vật chứng ngày 21/7/2022 để xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử
ghi nhận.
Đối với 04 gói nilon chứa tinh thể không màu được Cơ quan cảnh sát điều
tra Công an thành phố T thu giữ dưới lòng đường xảy ra ngày 04/01/2022 trước
cửa nhà số 325/6 KVC, Khu phố S, phường H, thành phố T qua giám định là ma
túy ở thể rắn, có khối lượng 9,7721 gram, loại Mathamhetamine. Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an Thành phố T đã tách ra và tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù
tính từ ngày 04/01/2022.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ma túy loại Mathamphetamine có khối
lượng 2,0609g; 01 bóp da màu đen.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Sony màu
đen có số thuê bao 0765544506, số IMEI: 355106100904412.
(Theo phiếu nhập kho số: NK22/041C ngày 24/6/2022; của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố T, Thành phố H).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Thanh T chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 gày
kể từ ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại; - VKSND, CA, Chi cục THA thành phố T; - PC27; - VKSND Tp.H; - Sở Tư pháp Tp.H; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |