vanban.org

Bản án 282/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy S 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày T a tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Duy S cho Ủy ban nh n d n phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Sinh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 282/2020/HS-ST
Ngày: 24-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trí.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở T a án nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 261/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy S, S năm 1978, tại Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 3, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Tổ 3, khu phố H, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ h c v n: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; d n tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy N (chết) và bà Hoàng Thị N (chết); có vợ là Trần Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn D; địa chỉ: khu công nghiệp S, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông La Hoàng T; vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Đinh Văn T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Nguyễn Duy S là công nh n của Công ty trách nhiệm hữu hạn D (g i tắt là Công ty), địa chỉ tại khu Khu Công nghiệp S, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/02/2020, S đến Công ty làm việc. Khi đi, S mang 01 đôi giày màu đen, đế trắng, có gắn mạc Adidas ở ch n và đem theo 01 đôi giày bị bung đế (cũng loại thể thao, màu đen, đế trắng) để vào công ty dán keo lại. Khi đến Công ty, S mang đôi giày bị bung đế đến tổ dán keo để dán lại phần đế. Dán xong, S mang đôi giày này để trên ghế ở vị trí đầu tổ may đế giữa rồi làm công việc bình thường. Khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, khi S đang làm việc tại tổ 01 – Khâu thành hình và đứng ở vị trí sát bên một kệ sắt thì nhìn th y trên kệ có để một đôi giày mẫu (loại giày kiểu dáng thể thao, màu trắng, đế bằng cao su, có ghi nhãn hiệu Champion; đ y là giày mẫu thuộc bản quyền của công ty D) nên S nảy S ý định nếu đi vừa S sẽ l y mang về sử dụng. S ngồi xuống ghế cởi đôi giày đang mang ở ch n ra rồi l y đôi giày mẫu trên kệ sắt xuống và mang vào 02 ch n. Th y đôi giày này mang vừa nên S để lại đôi giày màu đen, đế trắng, có gắn mạc Adidas của S lại rồi đi đến bãi giữ xe l y xe đi về ph ng tr . Một lúc sau, Công ty phát hiện bị m t đôi giày nên kiểm tra camera thì phát hiện S đã l y trộm đôi giày nên nhân viên công ty điện thoại kêu S đến công ty để giải quyết. Do sợ bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản của Công ty nên S không thừa nhận và đã bỏ đôi giày l y trộm của Công ty vào trong thùng rác ở cách ph ng tr của S khoảng 800 mét (hiện không thu hồi được). Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công ty đã tố giác hành vi của S đến Đồn Công an Khu Công nghiệp K và giao nộp 01 đôi giày màu đen, đế trắng, có gắn mạc Adidas của S đã bỏ lại Công ty. Ngày 04/3/2020, Đồn Công an Khu Công nghiệp K đã có Phiếu chuyển tin báo về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một để kiểm tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 09/4/2020, Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một có Bản kết luận định giá số 65/KLTS-TTHS, kết luận: 01 (một) đôi giày nhãn hiệu Champion, màu trắng, trị giá trị giá 4.416.555đ (bốn triệu bốn trăm mười sáu nghìn năm trăm năm mươi lăm đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, bị hại không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a giữ nguyên quan điểm truy tố hành của bị cáo S đủ yếu tố c u thành tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về các v n đề khác của vụ án:

Vật chứng thu giữ gồm: 01 đôi giày màu đen, đế trắng, có gắn mạc Adidas, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án d n sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Quá trình điều tra, S đã tự nguyện bồi thường cho công ty số tiền 4.400.000 đồng và công ty không có yêu cầu gì thêm.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 162/CT-VKS – HS ngày 08/6/2020 của Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tòa tuyên án.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi giày màu đen, đế trắng, có gắn mạc Adidas.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra, bị hại không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo Nguyễn Duy S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên t a. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/02/2020, tại Công ty trách nhiệm hữu hạn D thuộc Khu Công nghiệp S, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo S đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 đôi giày nhãn hiệu Champion, màu trắng, trị giá 4.416.555 đồng của công ty. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hậu quả là bị cáo đã chiếm đoạt một đôi giày của bị hại. Hành vi của bị cáo không những x m phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công d n được pháp luật bảo vệ mà c n g y m t trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính ch t và mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và ph ng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có mẹ được tặng thưởng hu n chương kháng chiến hạng ba theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú r ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên việc không bắt bị cáo đi ch p hành hình phạt tù thì không g y ảnh hưởng x u đến cuộc đ u tranh ph ng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo hưởng án treo là đã đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ch p nhận.

Về trách nhiệm d n sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) đôi giày màu đen, đế trắng, có gắn mạc Adidas là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n tối cao về Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy S 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày T a tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Duy S cho Ủy ban nh n d n phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm d n sự: Không đặt ra xem xét.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi giày màu đen, đế trắng, có gắn mạc Adidas.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 005.21 ngày 05/10/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ