- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Tố Nh "yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn" Huỳnh Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Tố N về việc “thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn” với ông Huỳnh Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 282/2020/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 9 - 2020 V/v “Thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Kim Cương;
2. Bà Nguyễn Thị Rạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 758/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp “thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2020/QĐXX-ST ngày 27/8/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 174/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/9/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Tố N, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Tố N như sau:
Ba Như và ông H thuận tình ly hôn theo Quyết định số 465/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2017, bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Huỳnh Anh Đ, sinh ngày 15/5/2017, ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 650.000 đồng, thời gian cấp dưỡng nuôi con từ tháng 9/2017. Ông H cấp dưỡng nuôi con đến hết năm 2017 thì ngưng không cấp dưỡng. Đến năm 2020, ông H mới tiếp tục cấp dưỡng lại theo quyết định thi hành án của Chi cục thi hành án. Hiện nay, nhu cầu cuộc sống của cháu Đ ngày một tăng, số tiền 650.000 đồng/tháng không đủ đáp ứng. Mặt khác, ông H làm điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á, thu nhập tương đối cao, ổn định nên có khả năng tăng tiền cấp dưỡng nuôi con để bà có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung được tốt hơn. Tại đơn khởi kiện ban đầu, bà yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 650.000 đồng lên 2.000.000 đồng mỗi tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà N yêu cầu mức cấp dưỡng là 1.200.000 đồng mỗi tháng.
Bị đơn ông Huỳnh Văn H đã được Tòa án nhiều lần triệu tập tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà N khởi kiện yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 650.000 đồng lên 1.200.000 đồng mỗi tháng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của bà N dựa trên khả năng thực tế của ông H và nhu cầu thiết yếu của con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Tố N nộp đơn khởi kiện yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 650.000 đồng lên 1.200.000 đồng đối với ông Huỳnh Văn H có địa chỉ cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Phạm Tố N có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ vào Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải. Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu xin thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo Quyết định số 465/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, ghi nhận bà N trực tiếp nuôi con chung là cháu Huỳnh Anh Đ, sinh ngày 15/5/2017, ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 650.000 đồng. Xét mức cấp dưỡng nuôi con 650.000 đồng tại thời điểm hiện tại đối với cháu Đ hơn 03 tuổi là thấp, không thể đáp ứng được nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, sinh hoạt và không đảm bảo cho việc học hành của cháu. Nên bà N yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở.
Về mức cấp dưỡng nuôi con bà N yêu cầu là 1.200.000 đồng mỗi tháng. Tại văn bản trả lời số 129/BVXA ngày 14/8/2020 của Công ty cổ phần đầu tư Bệnh viện Xuyên Á, hiện ông H đang làm việc tại Khoa nội thần kinh – Bệnh viện đa khoa Xuyên Á, thời gian làm việc từ ngày 10/4/2015 đến nay, theo hợp đồng không xác định thời hạn với tổng thu nhập hàng tháng là 5.722.200 đồng, mức thu nhập ổn định. Luật hôn nhân gia đình quy định: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Xét khả năng thực tế của ông H, ông H có công việc ổn định, và mức thu nhập hàng tháng 5.722.200 đồng/tháng nên với yêu cầu về mức cấp dưỡng mà bà N đưa ra là 1.200.000 đồng chỉ tương đương khoảng 1/5 mức thu nhập của ông H và mức cấp dưỡng này thực sự cần thiết đối với nhu cầu ăn, học, sinh hoạt của cháu Đ.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Tố N về việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn từ 650.00 đồng lên 1.200.000 đồng mỗi tháng.
Về án phí: Bị đơn ông Huỳnh Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí về thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 107, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Tố N về việc “thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn” với ông Huỳnh Văn H.
Buộc ông Huỳnh Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Huỳnh Anh Đ, sinh ngày 15/5/2017 mỗi tháng 1.200.000 đồng (một triệu, hai trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Huỳnh Anh Đ đủ 18 tuổi.
Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Ông Huỳnh Văn H phải chịu 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Rạt – Trƣơng Thị Kim Cƣơng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tho THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tho |