- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh La Minh T và chị Đặng Thị Cẩm L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:282/2019/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 7 - 2019 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Tự;
2. Ông Phan Công Điện.
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2019/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HN, ngày 10 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2019/QĐST-HN, ngày 25 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: La Minh T, sinh năm 1986.
Địa chỉ: số 290, Bạch Đằng, Khóm 6, Phường 9, thành phố T, tỉnh Tr.
2.Bị đơn: Đặng Thị Cẩm L, sinh năm 1986.
Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn La Minh T (sau đây gọi anh T) trình bày: giữa anh và bị đơn Đặng Thị Cẩm L (sau đây gọi chị L) qua mai mối, giới thiệu của người thân mà quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, đã nhiều lần hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: xin ly hôn với chị L.
-Về con chung: có một người con chung tên La Đức A (nam), sinh ngày 21 tháng 9 năm 2011, từ khi ly thân đến nay con chung sống với anh T, nay ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, chưa yêu cầu chị L cấp dưỡng.
-Về nợ và tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Đặng Thị Cẩm L vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 21.5.2019, cháu La Đức A trình bày (có sự chứng kiến của anh T): khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng là được sống với cha.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tiếp tục giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn chưa phải cấp dưỡng; về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: chị Đặng Thị Cẩm L được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với chị L.
Xét về quan hệ hôn nhân: anh T và chị L qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 01 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T, Hội đồng xét xử xét thấy: anh và chị L tự nguyện đi đến hôn nhân, chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh T trình bày: do bất đồng quan điểm sống mà giữa hai người không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị được đoàn tụ nhưng chị L không đến để hòa giải đoàn tụ, từ đó xác định chị L cũng không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này; xét thấy thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay, anh T xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị L và cương quyết xin ly hôn; từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.
Về con chung: xét từ khi ly thân đến nay thì con chung sống với anh T, anh T có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng của cháu Đức A, nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của cháu, cần tiếp tục giao cháu Đức A cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đức A đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh T có yêu cầu khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: anh T chưa yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị L mà không ai có quyền cản trở.
Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: anh T phải nộp theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh La Minh T và chị Đặng Thị Cẩm L.
2. Về nuôi con chung: anh La Minh T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu La Đức A (nam), sinh ngày 21 tháng 9 năm 2011 cho đến khi cháu Đức A đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh T có yêu cầu khác.
Chị Đặng Thị Cẩm L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị L mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, không xem xét
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: anh La Minh T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0020677, ngày 22.4.2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND huyện PH; - THADS huyện PH; -UBND xã H, h.g H, t.Hậu Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Liêm |