vanban.org

Bản án 281/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/05/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ:

Buộc ông Trịnh Tự T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền nợ gốc là 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng) còn nợ của Giấy vay tiền đề ngày 18/10/2023, ngày 09/11/2023. Thời hạn thanh toán: Thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NGUYỄN VĂN Đ - TRỊNH TỰ T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2025/DS-ST
Ngày: 05 – 5 -2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Ngọc Thanh

2/ Ông Nguyễn Đình Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú,Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 898/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 454/2025/QĐXXST- DS ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 453/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số B đường P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trịnh Tự T, sinh năm 1984; Địa chỉ: C Lô A, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Do có quan hệ quen biết nên ông có cho ông Trịnh Tự T vay tiền 02 đợt với tổng số tiền là 650.000.000 đồng, cụ thể như sau:

- Đợt 1: Ông T vay số tiền 400.000.000 đồng. Ông T có viết giấy mượn tiền ngày 18/10/2023. Thời hạn mượn tiền 45 ngày kể từ ngày nhận được tiền chuyển khoản (ngày 18/10/2023)

- Đợt 2: Ông T vay số tiền 250.000.000 đồng. Ông T có viết giấy mượn tiền ngày 09/11/2023. Thời hạn trả nợ ngày 30/11/2023

Ông cho ông T vay tiền không có lãi suất. Từ lúc vay tiền cho đến nay, ông T chưa trả cho ông được khoản tiền nào.

Do quá thời hạn trả nợ nhưng ông T vẫn không trả nợ cho ông nên ngày 26/7/2024 ông T viết cho ông xác nhận mượn tiền với nội dung ông T còn nợ ông số tiền là 650.000.000 đồng.

Ông đã nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ nhưng ông T cố tình trốn tránh, không có thiện chí trả nợ. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là ông Trịnh Tự T trả lại ông số tiền đã vay là 650.000.000 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông không yêu cầu tính lãi đối với khoản vay trên.

Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự cho ông Trịnh Tự T nhưng ông T không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn: Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn Đ. Buộc ông Trịnh Tự T phải trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền là 650.000.000 đồng.

Án phí dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét Đơn khởi kiện, giấy vay tiền ngày 18/10/2023 và ngày 09/11/2023, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là quan hệ hợp đồng dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do bị đơn cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về những người tham gia tố tụng:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024, ông Trịnh Tự T có đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Trúc Q. Tuy nhiên, qua xem xét các giấy vay tiền thì bà Q không liên quan gì đến việc vay mượn nợ giữa ông Đ và ông T. Đồng thời, tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản hòa giải thì ông Đ chỉ yêu cầu ông T trả nợ cho ông. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở đưa bà Nguyễn Trúc Q vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự:

- Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 10/4/2025. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Do ông Trịnh Tự T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông T.

Về yêu cầu của đương sự:

Ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu ông Trịnh Tự T trả số tiền nợ gốc là 650.000.000 đồng:

Căn cứ vào giấy vay tiền đề ngày 18/10/2023, ngày 09/11/2023 và lời trình bày của ông Đ thì ông T có vay của ông Đ hai lần với tổng số tiền là 650.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 26/7/2024 ông T viết giấy xác nhận mượn tiền với nội dung ông T còn nợ ông Đ số tiền là 650.000.000 đồng.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt cho bị đơn Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại các thông báo này cũng thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng ông T vẫn không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình cũng như không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông T không có mặt, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ, văn bản trình bày ý kiến về vụ kiện nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở xác định ông T vay của ông Đ số tiền 650.000.000 đồng. Do đó, căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là 650.000.000 đồng.

Về yêu cầu tính lãi: Ông Đ không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về thời hạn và phương thức thanh toán: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu, đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa hôm nay, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho ông Đ là 650.000.000 đồng, do đó án phí ông T phải chịu là 30.000.000 đồng.

Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ tiền tạm ứng án phí là 15.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0045176 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ:

Buộc ông Trịnh Tự T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền nợ gốc là 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng) còn nợ của Giấy vay tiền đề ngày 18/10/2023, ngày 09/11/2023.

Thời hạn thanh toán: Thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Địa điểm thi hành: Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trịnh Tự T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Đ toàn bộ tiền tạm ứng án phí là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) theo Biên lai thu số 0045176 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ