vanban.org

Bản án 281/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông Võ Văn T, xử cho ông Võ Văn T và bà Lê Thị T ly hôn.

Về án phí: Xử buộc ông Võ Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) án phí LHST, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0006252 ngày 08/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thăng Bình. Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Văn T- Lê Thị T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông Võ Văn T, xử cho ông Võ Văn T và bà Lê Thị T ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2023/HNGĐ-ST
Ngày 18/8/2023
Về việc: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Phạm Đình Hoàng

+ Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường xét xử - Điểm cầu trung tâm; Tòa án nhân dân huyện T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 55/2023/TLST-HNST ngày 08 tháng 3 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 30/QĐHPT ngày 17/7/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1988 (có mặt).

Trú tại: Tổ 23, thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

- Bị đơn: Bà Lê Thị T – sinh năm 1988 (vắng mặt không có lý do).

Trú tại: Tổ 1, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, biên bản trình bày, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Văn T trình bày:

Tôi và bà Lê Thị T tự tìm hiểu, kết hôn năm 2021, có đăng ký tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình chung sống do không hợp nhau, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cải vả với nhau. Tôi và bà T sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay. Nay tôi thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc nên tôi xin được ly hôn với bà Lê Thị T.

Về con chung: Tôi và bà Lê Thị T chưa có con chung.

Về tài sản chung: Tôi và bà T tự giải quyết, không yêu cầu Tòa điều chỉnh.

Về nợ chung: Tôi và bà T không có nợ chung.

* Bị đơn bà Lê Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Thủy cố tình trốn tránh, không đến Tòa làm việc. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của bà Lê Thị T.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư Ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, trình tự thu thập chứng cứ là đúng quy định pháp luật. Đối với bị đơn không tuân thủ các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông Võ Văn T, xử cho ông Võ Văn T và bà Lê Thị T ly hôn.

- Về con chung: Ông Võ Văn T và bà Lê Thị T chưa có con chung nên đề nghị HĐXX không xét.

- Về tài sản chung: Ông Võ Văn T khai vợ chồng tự giải quyết nên đề nghị HĐXX không xét.

Về nợ chung: Ông Võ Văn T khai không có nên đề nghị HĐXX không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án có bị đơn bà Lê Thị T cư trú tại huyện T, tỉnh Quảng Nam. Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn bà Lê Thị T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bà Lê Thị T.

Về nội dung vụ án: Ông Võ Văn T và bà Lê Thị T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào năm 2021, có đăng ký tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Như vậy, hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn theo ông Võ Văn T khai là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cải vả, xúc phạm nhau. Ông T và bà T đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay ông T thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với bà Lê Thị T Còn về phía bà Lê Thị T không chịu hợp tác làm việc với tòa, cố tình trốn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Hành vi của bà T thể hiện sự coi thường pháp luật và không có thiện chí trong việc hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Hiện nay, mâu thuẩn vợ chồng của ông T và bà T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông T xin ly hôn là có cơ sở, phù hợp với Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về con chung: Ông Võ Văn T và bà Lê Thị T chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông Võ Văn T khai vợ chồng tự giải quyết nên HĐXX không xét.

Về nợ chung: Ông Võ Văn T khai không có nên HĐXX không xét.

Về án phí: Xử buộc ông Võ Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông Võ Văn T, xử cho ông Võ Văn T và bà Lê Thị T ly hôn.

2. Về án phí: Xử buộc ông Võ Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) án phí LHST, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0006252 ngày 08/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thăng Bình.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ