vanban.org

Bản án 281/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C về việc “Ly hôn” đối với ông Lê Minh P.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với ông Lê Minh P. Về quyền nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Kim C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Mỹ K, sinh ngày 15-8-2011. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim C Ly hôn Lê Minh P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C về việc “Ly hôn” đối với ông Lê Minh P.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-11-2023
V/v “Ly hôn giữa bà C và ông P”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Lin;

2. Ông Lý Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 997/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 169/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Lê Minh P, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà C có đơn xin vắng mặt, ông P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C trình bày tóm tắt như sau: Do quen biết và được hai bên gia đình đồng ý nên vào năm 2010 bà và ông Lê Minh P đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08-6-2011. Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ K, sinh ngày 15-8-2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nay bà C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên bà C yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà và ông P có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ K, sinh ngày 15-8-2011. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Mỹ K, không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim C xác định bà và ông P không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim C xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Minh P vắng mặt trong suốt quá trình thụ lý giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 17/10/2023 thể hiện: ông P không đồng ý ly hôn với bà C.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống ông và bà C có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ K, sinh ngày 15-8-2011. Do ông không đồng ý ly hôn nên không có ý kiến về con chung.

Về tài sản chung: Ông Lê Minh P xác định ông và bà C không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông Lê Minh P xác định ông và bà C không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 04/10/2023, cháu Lê Thị Mỹ K có ý kiến trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được sống với mẹ.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Lê Minh P theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông P biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà C nhưng ông P không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Lê Minh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi kiện của bà C và xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị Kim C bận đi làm nên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án quyết định xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Minh P. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của các đương sự trong vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim C bận đi làm và có đơn đề nghị xử vắng mặt; Ông Lê Minh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo quy định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Lê Minh P có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân A, huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/6/2011 (Giấy đăng ký số 63/2011, quyển số 01/2011) nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim C và ông Lê Minh P là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim C đối với ông Lê Minh P, thấy rằng: Bà C trình bày cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên tình cảm vợ chồng rạn nứt. Ông P không đồng ý ly hôn nhưng không trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng cũng không đưa ra được giải pháp để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Xét thấy, yêu cầu đoàn tụ của ông P không được bà C đồng ý, Tòa án đã tiến hành tống đạt mời ông P tham gia phiên tòa để giải quyết ly hôn với bà C nhưng ông P vắng mặt lần thứ hai không lý do chứng tỏ ông P không có thiện chí để hàn gắn. Xét thấy một trong hai bên hiện đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn thiết tha vun đắp cuộc sống chung của vợ chồng để cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim C.

Về nuôi con chung: Bà C và ông P thống nhất có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ K, sinh ngày 15-8-2011. Xét thấy, cháu K do bà C đang nuôi dưỡng và cháu K có nguyện vọng là muốn sống cùng với mẹ. Ông P vắng mặt không có ý kiến gì về con chung. Hơn nữa cháu K giới tính nữ, do đó để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của cháu, nên căn cứ vào Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Lê Thị Mỹ K cho bà Cương trực t nuôi dưỡng sau khi bà C và ông P ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà C không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp với các Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận không xem xét.

Về tài sản chung: Bà C và ông P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà C và ông P xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Lê Minh P vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến về con chung, cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết. Nếu sau này, giữa bà C và ông P có phát sinh tranh chấp về con chung, cấp dưỡng nuôi con thì các bên được quyền khởi kiện để giải quyết trong một vụ án khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim C về việc “Ly hôn” đối với ông Lê Minh P.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với ông Lê Minh P.

2. Về quyền nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Kim C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Mỹ K, sinh ngày 15-8-2011.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà C không yêu cầu.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà C và ông P xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005755 ngày 27-9-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Bà Nguyễn Thị Kim C đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ