- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trịnh Hồng L, Phan Thanh H - Phạm Văn k, Trần Hồng T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Hồng L và anh Phan Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————— ——————————————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 281/2023/DS-ST Ngày 23 - 11 - 2022 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông phạm Việt Hưng
Ông Trần Chí Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 532/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Chị Trịnh Hồng L, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Ấp TA, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
2. Anh Phan Thanh H, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Ấp TA, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Anh Phạm Văn K, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp TA, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
2. Chị Trần Hồng T, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Ấp TA, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Trịnh Hồng L và anh Phan Thanh H thống nhất trình bày: Trước đây, anh chị làm chủ hụi, anh và chị T có tham gia chơi trong các dây hụi, cụ thể:
Dây hụi 3.000.000đ, mở ngày 10/02/2020 âl, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 36 phần, anh K và chị T tham gia 01 phần. Quá trình chơi hụi, anh K và chị T tham gia đến kỳ thứ 06 hốt hụi được số tiền 78.060.000đ. Sau đó, anh K và chị T đóng hụi chết đến kỳ thứ 33 thì ngưng. Số tiền anh K và chị T nợ anh chị là 03 kỳ x 3.000.000đ = 9.000.000đ.
Dây hụi 3.000.000đ, mở ngày 10/8/2022 âl, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 37 phần, anh K và chị T tham gia 01 phần. Quá trình chơi hụi, anh K và chị T hốt hụi kỳ thứ 01 được số tiền 72.050.000đ. Sau đó, anh K và chị T đóng hụi chết đến kỳ thứ 11 thì ngưng. Số tiền anh K và chị T nợ anh chị là 26 kỳ x 3.000.000đ = 78.000.000đ.
Nay anh chị yêu cầu anh K và chị T trả tổng số tiền là 87.000.000đ.
Đối với anh Phạm Văn K, chị Trần Hồng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh chị không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị L, anh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trịnh Hồng L và anh Phan Thanh H khởi kiện yêu cầu anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T trả tiền nợ hụi là vụ kiện tranh chấp hụi, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tung: Chị L, anh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh K và chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc các đương sự có tham gia chơi hụi và anh K, chị Tm còn nợ tiền hụi chị L, anh H 87.000.000đ là thực tế có xãy ra. Xét thấy: Chị L, anh H là chủ hụi với vai trò bảo lãnh cho các hụi viên tham gia chơi hụi, còn chị T, anh K là hụi viên. Trong quá trình chơi hụi, nếu có hụi viên hốt hụi xong mà không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi thì với vai trò là chủ hụi chị L và anh H phải đóng hụi thay cho hụi viên đó.
Như vậy, trong quá trình chơi hụi anh K và chị T sau khi hốt hụi không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng hụi cho chị L, anh H. Với vai trò là chủ hụi, chị L và anh H phải thực hiện nghĩa vụ đóng hụi thay của anh K, chị T đối với các hụi viên khác. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị L, anh H là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Xét về nghĩa vụ trả tiền, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh K, chị T đã biết được nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị L và anh H nhưng anh, chị không có ý kiến, không đưa ra chứng cứ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để xét xử là phù hợp với khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Mặt khác, khi chị T tham gia chơi trong dây hụi do chị L và anh H mở thì anh K với chị T đang chung sống cuộc sống vợ chồng và hiện nay anh chị vẫn còn tồn tại mối quan hệ hôn nhân. Do đó, khoản nợ hụi của chị L, anh H là khoản nợ chung của anh K với chị T được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, anh K và chị T phải cùng có nghĩa vụ trả tiền cho chị L và anh H là phù hợp.
[5] Xét về án phí dân sự: Anh K và chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 91; Điều 5; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Hồng L và anh Phan Thanh H.
1. Buộc anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T phải có nghĩa vụ trả cho chị Trịnh Hồng L và anh Phan Thanh H số tiền là 87.000.000 đồng (tám mươi bẩy triệu đồng).
2. Kể từ ngày chị Trịnh Hồng L và anh Phan Thanh H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng anh K, chị T còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Về án phí dân sự:
3.1. Chị Trịnh Hồng L và anh Phan Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị L, anh H 2.175.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000413 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
3.2. Anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 4.350.000 đồng.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - Đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. (đã ký) Trƣơng Minh Thịnh Trƣơng Minh Thịnh |