vanban.org

Bản án 281/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 30/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyển hoàng anh vũ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. V
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2018/HSST
Ngày 30-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Đắc

Ông Lê Văn Khoe

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 281/2018/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2018/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Anh V (tên gọi khác: Ti), sinh ngày 27-11-1987 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: số 513/9 đường T, phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1987 và có 01 con, sinh năm 2009; tiền sự, tiền án: không; Bị bắt ngày 20 tháng 8 năm 2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Cổ phần dịch vụ phát triển Giao thông vận tải V; địa chỉ trụ sở: LK10 khu nhà ở K, phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Đại diện theo pháp luật: ông Trần Văn K, sinh năm: 1977 - Giám đốc;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Trọng H, sinh năm 1981 (có mặt);

2. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1968; nơi cư trú: 513/9 đường T, phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15h00’ ngày 20-8-2018, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Công an thành phố V kết hợp với Công an phường H, thành phố V kiểm tra phòng trọ nhà số 5D đường L, phường H, thành phố V, bắt quả tang Nguyễn Hoàng Anh V đang tàng trữ: 18 viên nén màu xanh, hình chiếc khiên, trên một bề mặt có in logo NFL (V khai là ma túy tổng hợp, MTTH, loại Thuốc Lắc), 02 gói nylon, hàn kín, bên trong có chứa chất bột mịn màu trắng (V khai là MTTH, loại Hàng Khay), 02 gói nylon, hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu, trong suốt (V khai MTTH, tên gọi khác: Hàng Đá), đồng thời cơ quan điều tra thu giữ: 02 điện thoại di động (trong đó, 01 hiệu Iphone X, màu đen, 01 hiệu Nokia) và 01 xe ô tô 4 chỗ, biển số: 72A- 159.45.

Lúc này trong phòng trọ có đối tượng Võ Chí C, tên gọi khác: Tý, sinh năm: 1989, HKTT: 60/44 đường H, phường B, thành phố V, chỗ ở: phòng trọ nhà số 5D đường L, phường H, thành phố V.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng Anh V khai: V sử dụng MTTH từ năm 2014 đến nay. Số MTTH bị thu giữ, V mua của một thanh niên tên Hùng không rõ lai lịch, ở khu vực bến xe Vũng Tàu, với giá: 8.000.000 đồng để sử dụng và đã 02 lần bán cho Võ Chí C, địa điểm đều tại phòng trọ nhà số 5D đường L, phường 2, thành phố V, cụ thể: lần thứ nhất: V bán 01 gói MTTH với giá: 200.000 đồng vào khoảng 02h sáng ngày 20-8-2018, lần thứ hai: V bán 01 gói MTTH với giá: 200.000 đồng vào khoảng 14h ngày 20-8-2018.

Lời khai của Nguyễn Hoàng Anh V phù hợp chứng cứ thu thập được và phù hợp lời khai con nghiện Võ Chí C. C khai đã 02 lần mua MTTH do V bán với số tiền, số lượng MTTH, thời gian và địa điểm mua bán như trên. Sau khi mua MTTH, C đã sử dụng hết, cơ quan điều tra không thu và không xác định được khối lượng MTTH C đã mua, nên không đủ cơ sở xử lý hình sự Võ Chí C, mà đưa vào diện người làm chứng vụ án và Cơ quan CSĐT Công an TP V đã ra Quyết định xử phat vi phạm hành chính số: 2100/QĐ- XPHC ngày 23-8-2018, mức phạt: 750.000 đồng (BLFĐT: 27 đến 32).

Bản kết luận giám định số: 3580/C09B ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Phân viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh kết luận:

- Tinh thể trong suốt đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 7,0858 gam, loại Methamphetamine.

- Chất bột màu trắng đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 11,2048 gam, loại Ketamine.

- 18 viên nén màu xanh hình chiếc khiên có chữ NFL được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 6,2159 gam, loại MDMA.

Đối với người thanh niên tên Hùng ở khu vực bến xe V đã bán ma túy cho V, do không rõ lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, bắt được xử lý sau.

Đối với chiếc xe ô tô hiệu Hyunđai, biển số: 72A- 159.45, qua điều tra xác định, là xe taxi của Công ty Cổ phần dịch vụ phát triển Giao thông vận tải V, do ông Trần Văn K, sinh năm: 1977, là Giám đốc, có trụ sở tại LK 10 khu nhà ở K, phường M, TP V đã giao cho Nguyễn Hoàng Anh V sử dụng để kinh doanh vận tải bằng xe taxi. Ông K không biết và không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của V, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 121/QĐ ngày 06-9-2018 trao trả xe trên cho ông Nguyễn Văn R, sinh năm: 1964, HKTT: 88/4 đường B, phường 5, thành phố V, là người được ông Trần Văn K làm giấy ủy quyền đại diện Công ty Cổ phần dịch vụ phát triển Giao thông vận tải V xin xe ô tô hiệu Hyunđai, biển số: 72A- 159.45 (BLĐT: 33 đến 39, 41, 42).

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, qua điều tra xác định, ông Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1968, HKTT: 513/9 đường T, phường B, thành phố V, là ba ruột của Nguyễn Hoàng Anh V, mua tại cửa hàng số 232 đường L, phường B, thành phố V vào ngày 15-7-2018. Điện thoại trên bị hư màn hình, nên ông L đã nhờ V đi sửa giúp. Ông L không biết và không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của V, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 146/QĐ ngày 02-11-2018 trao trả điện thoại trên cho ông L (BLĐT: 40, 43 đến 51).

Bản cáo trạng số 265/CT-VKS ngày 16-11-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố Nguyễn Hoàng Anh V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 07 đến 08 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số imei 356944096672257.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh ; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng Anh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của Võ Chí C, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được tại hiện trường và các tại liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Lúc 15h00’ ngày 20-8-2018, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Công an thành phố V kết hợp với Công an phường H, thành phố V kiểm tra phòng trọ nhà số 5D đường L, phường H, thành phố V, bắt quả tang Nguyễn Hoàng Anh V đang tàng trữ: 6,2159 gam MDMA, 7,0858 gam Methamphetamine và 11,2048 gam Ketamine để sử dụng và bán cho các con nghiện. Tính đến ngày bị bắt, Nguyễn Hoàng Anh V đã 02 lần bán MTTH cho con nghiện tên Võ Chí C, với giá: 200.000 đồng/1 gói/1 lần. Vì vậy, hành vi bị cáo Nguyễn Hoàng Anh V thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi của bị cáo: Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội không thuộc các trường hợp là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự khai ra hành vi phạm tội trước đó nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Không xác định được bị cáo có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 gói ma túy niêm phong số 3580/C09B ngày 21-9-2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia, số imei 356944096672257 là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐỊNH:

1. Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh V (tên gọi khác: Ti) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”.

2. Áp dụng: Điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Nguyễn Hoàng Anh V (tên gọi khác: Ti), 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 8 năm 2018.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong số 3580/C09B ngày 21-9-2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia, số imei 356944096672257

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 52/BB.THA ngày 21-11-2018.

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ