- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ T-D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Danh D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 280/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27-7-2026 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình xin ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An Các Hội thẩm nhân dân:
Nguyễn Hùng Kiệt
Nguyễn Hồng Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang: Ông Trần Ngọc Nhiều - là Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 964/2025/TLST - HNGĐ, ngày 25 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã L, thành phố Hồ Chí Minh.
-Bị đơn: Anh Danh D, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị T và anh D tự tìm hiểu nhau khoảng 01 năm, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào ngày 16/9/2012. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng hạnh phúc gần 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn do không phù hợp tính ý, cuộc sống không hạnh phúc do không có sự tin tưởng nhau. Vợ chồng đã ly thân từ 2020 cho đến nay, không quan tâm chăm sóc nhau. Anh D1 đi làm ăn xa thỉnh thoảng có về nhà. Chị T xác định tình trạng hôn nhân của chị và anh D1 không thể nào hàn gắn được, chị T cương quyết ly hôn với anh D1.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có ba người con chung tên Danh Thị Ngọc L, sinh ngày 07/4/2014, Danh Ngọc Bích N, sinh ngày 19/12/2018 và Danh Ngọc Khả N1, sinh ngày 14/01/2020. Chị T yêu cầu nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn - anh Danh D đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử tiến hành nghị án. Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, và phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành trình tự, thủ tục của phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D là phù hợp.
Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T cương quyết yêu cầu ly hôn, anh D không có ý kiến và không đưa ra được giải pháp để hàn gắn mâu thuẫn nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh D.
Về con chung: Cháu L và cháu N đã trên 07 tuổi, các cháu có văn bản thể hiện nguyện vọng muốn tiếp tục chung sống với mẹ. Xét thấy hiện các cháu đều đang chung sống ổn định với chị T. Chị T có yêu cầu nuôi dưỡng 03 cháu là phù hợp theo nguyện vọng của các con và anh D cũng không có ý kiến phản đối, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao 03 cháu Danh Thị Ngọc L, sinh ngày 07/4/2014, Danh Ngọc Bích N, sinh ngày 19/12/2018 và Danh Ngọc Khả N1, sinh ngày 14/01/2020 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Do chị T không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung với anh Danh D. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, tỉnh An Giang nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
Quá trình giải quyết vụ án, anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng anh D vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy sự vắng mặt của anh D không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T và anh D2 D cưới nhau vào năm 2012, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị T xác định cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự tin tưởng, quan tâm chăm sóc nhau. Chị và anh D đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình....”. Anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không sống chung trong một khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn.
Quá trình giải quyết vụ án, anh D không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T và không đến Tòa án tham gia tố tụng nên có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị T và anh D ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Danh D.
Về con chung:
Theo trình bày của chị T và giấy khai sinh có cơ sở xác định vợ chồng có 03 con chung tên Danh Thị Ngọc L, sinh ngày 07/4/2014, Danh Ngọc Bích N, sinh ngày 19/12/2018 và Danh Ngọc Khả N1, sinh ngày 14/01/2020. Chị T yêu cầu nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy hiện các con đang chung sống ổn định với chị T. Hai cháu L và N đều trên 07 tuổi và có văn bản thể hiện nguyện vọng tiếp tục chung sống với mẹ. Anh Dũng không có ý kiến phản đối. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu L và N và cháu N1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Do chị T không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Anh Dũng được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung:
Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:
Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 307303 ngày 22/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Danh D.
2.Về con chung: Giao 03 cháu Danh Thị Ngọc L, sinh ngày 07/4/2014, Danh Ngọc Bích N, sinh ngày 19/12/2018 và Danh Ngọc Khả N1, sinh ngày 14/01/2020 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Dũng được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 307303 ngày 22/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, chị T được tính kể từ ngày tuyên án (ngày 27/7/2026), anh D được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSNDKV5-AG; - Phòng THADS KV5-AG; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thúy An |