vanban.org

Bản án 280/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2025/HS-ST
Ngày 16 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Đây;

Bà Lê Ngọc Sương;

Ông Bùi Tấn Đô.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Cao - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 253/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 311/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025; đối với:

- Bị cáo: Đỗ Minh T, sinh năm 1989 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: 07508901729X; nơi đăng ký thường trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai); giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình P và bà Hoàng Thị N; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/7/2025; hiện nay, đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 1 - Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Minh T: Ông Lê Hoàng M, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; nơi làm việc: Công ty L; địa chỉ: Số C, đường L, Khu phố I, phường T, tỉnh Đồng Nai; số điện thoại: 0935 184 0XX; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty T1;

Người đại diện theo pháp luật: Bà A Maria W, chức danh: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số:167/2021/GUQ-SE ngày 25/6/2021): Ông Lê Xuân M1, chức danh: Nhân viên Phòng An ninh - Công ty T1; số điện thoại: 0916 295 4XX; có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10, Tòa nhà P, Số B, đường N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Đỗ Minh T là nhân viên hỗ trợ kinh doanh của Công ty T1 (sau đây, viết tắt là Công ty T1). Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2020 đến tháng 5/2021, Đỗ Minh T được giao phụ trách khu vực Đ - T, tỉnh Đồng Nai, nhiệm vụ của T là tư vấn cho khách hàng vay tiền, làm hợp đồng cho khách hàng trình Công ty T1 duyệt khoản vay. Sau khi tư vấn cho các khách hàng xong, T tiếp tục tư vấn cho khách hàng chuyển đổi các hợp đồng từ nhu cầu vay tiền mặt thành các hợp đồng mua sản phẩm trả góp tại các cửa hàng mua bán nội thất, xe máy… trên địa bàn xã Đ, xã T, tỉnh Đồng Nai, như cửa hàng Q1, Số A, khu phố H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai do anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1982 làm chủ; Cửa hàng N2, Khu F, xã T, tỉnh Đồng Nai do bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968 làm chủ; Cửa hàng Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Mạnh C, Số A, Quốc lộ B, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai do bà Bùi Thị Kim N1, sinh năm 1966 làm chủ; Cửa hàng Công ty Trách nhiệm hữu hạn P2, tại Ấp C, P, xã Đ, tỉnh Đồng Nai do bà Bùi Trần P1, sinh năm 1971 làm chủ. Giữa các chủ cửa hàng này với Công ty T1 có ký với nhau hợp đồng thỏa thuận hợp tác kinh doanh, để giới thiệu và cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính tiêu dùng. Các hồ sơ sau khi tư vấn cho khách hàng xong, được T gửi về công ty hoặc gửi qua app riêng, để công ty phê duyệt, giải ngân tiền cho các hợp đồng mà khách hàng đã làm, rồi T nói với các khách hàng về chờ, khi nào công ty duyệt và giải ngân, T sẽ gọi lên nhận sản phẩm.

Sau khi biết công ty đã duyệt và giải ngân tiền cho các hợp đồng về tài khoản của các chủ cửa hàng, T đến gặp các chủ cửa hàng và đưa ra thông tin gian dối rằng: “khách hàng hủy hợp đồng, nên Trung đại diện cho công ty đến nhận lại số tiền trên, để chuyển lại về cho công ty” hoặc “T làm hợp đồng sai mã code, nên xin nhận lại tiền, để hủy hợp đồng và trả lại cho công ty”. Tin tưởng lời T nói là thật, nên các chủ cửa hàng đã đồng ý đưa lại số tiền này cho T. Sau khi nhận tiền từ các chủ cửa hàng, T đã sử dụng vào mục đích cá nhân như: Trả các khoản nợ mà T đã vay tiền của Công ty T1, các khoản vay mà T nhờ người thân và bạn bè đứng ra, lập hồ sơ vay tiền của công ty G. Ngoài ra, T còn lập thẻ tín dụng cho khách hàng, nhưng không giao cho khách mà giữ thẻ của khách hàng, để sử dụng vào mục đích cá nhân.

Các khách hàng vay tiền của công ty thấy lâu mà chưa nhận được tiền có hỏi T, thì T nói dối hồ sơ chưa được công ty duyệt và giải ngân; khi nào duyệt và giải ngân, T sẽ thông báo cho khách hàng đến nhận tiền hoặc thông báo hồ sơ không được duyệt, để khách hàng đi về.

Khoảng 02 tháng sau, Công ty T1 thấy các hợp đồng mà T tư vấn chuyển về công ty để ký kết và đã được giải ngân, nhưng không đóng tiền gốc và lãi theo đúng hạn quy định, nên bộ phận an ninh của công ty đã tiến hành kiểm tra, phát hiện từ tháng 4/2020 đến tháng 5/2021, Đỗ Minh T đã lập ra 47 hợp đồng vay tín dụng đứng tên khách hàng, chiếm đoạt số tiền 1.153.802.517 đồng của công ty, cụ thể như sau (tiền Việt Nam đồng):

Số hợp đồng Khách

Ngày ký Sản

Số tiền vay

Số tiền đã Còn lại

hàng

hợp đồng phẩm

trả 1 4003601629 Nguyễn 27.6.2020 Đồ

29.000.000

38.051.000

Thị

nội

Thúy

thất

2 4004098738 Dín

27.7.2020 Đồ

40.000.000

52.462.000

Nhộc

nội

Làn

thất

3 4006428743 Ngũ

16.12.2020 Đồ

20.000.000

13.410.000

Thế

nội

Đào

thất

4 4006635043 Nguyễn 30.12.2020 Đồ

10.000.000

6.300.000

Đức

nội

Vượng

thất

5 4100067287 Lê Văn 05.01.2021 Đồ

30.000.000

19.703.500

Lâm

nội

thất

6 4100118502 Hồ

09.01.2021 Đồ

20.000.000

26.280.660

Thanh

nội

Minh

thất

7 4100158948 Trần

10.01.2021 Đồ

2.400.000

2.938.375

Văn

nội

Giàu

thất

8 4100217854 Trần

14.01.2021 Đồ

31.000.000

19.204.440

đức

nội

tuấn

thất

9 4100366261 Nguyễn 24.01.2021 Đồ

42.000.000

52.395.000

Thị

nội

Kim Có

thất

10 4100471014 Phan

28.01.2021 Đồ

20.000.000

2.213.000

Bán

nội

thất

11 4100553529 Bùi Văn 01.02.2021 Đồ

20.000.000

26.260.730

Sáng

nội

thất

12 4100866810 Lê Thị 16.02.2021 Đồ

29.000.000

38.143.680

Bạch

nội

Phượng

thất

13 4100944769 Hà Văn 20.02.2021 Đồ

20.000.000

26.234.000

Hùng

nội

thất

14 4101010504 Trần

24.02.2021 Đồ

40.000.000

16.475.000

Thị Thu

nội

Thảo

thất

15 4101118851 Nguyễn 03.03.2021 Đồ

30.000.000

39.427.840

Thị

nội

Nguyệt

thất

16 4101223963 Nguyễn 09.03.2021 Đồ

40.000.000

50.657.852

Thị Bài

nội

thất

17 4101373229 Hà Thị 18.03.2021 Đồ

26.000.000

8.672.000

Diễm

nội

thất

18 4101454628 Nguyễn 24.03.2021 Đồ

12.000.000

5.480.000

Lê

nội

Thùy

thất

Trinh 19 4101636168 Trần

05.04.2021 Đồ

20.000.000

6.537.000

Văn

nội

thất

Phúc 20 4101923829 Lù

22.04.2021 Đồ

15.000.000

3.306.000

Nhộc

nội

Pẩu

thất

21 4101998308 Trần

27.04.2021 Đồ

40.000.000

8.764.000

Thị

nội

thất

Mộng

Trang 22 4102002596 Nguyễn 27.04.2021 Đồ

20.000.000

26.288.000

Thị

nội

thất

Kim

Chi 23 4102020981 Trần

28.04.2021 Đồ

30.000.000

6.581.000

Thị

nội

thất

Mộng

Phương 24 4102069716 Võ Văn 01.05.2021 Đồ

40.000.000

8.773.000

Hải

nội

thất

25 4102078118 Trần

01.05.2021 Đồ

10.990.000

0

Quay

nội

thất

Phụng 26 4102128418 Trương 03.05.2021 Đồ

30.000.000

6.566.000

Thanh

nội

thất

Lộc 27 4102165162 Nguyễn 06.05.2021 Đồ

31.000.000

3.500.000

Hoàng

nội

thất

Long 28 4102198809 Hoàng 08.05.2021 Đồ

30.000.000

3.350.000

Bảo

nội

thất

Duy 29 4102276538 Nguyễn 12.05.2021 Đồ

30.000.000

39.382.000

Văn

nội

thất

Mót 30 41024299766 Đinh

19.05.2021 Đồ

40.000.000

4.380.000

Thanh

nội

thất

Dũng 31 4001950686 Nguyễn 12.04.2020 Xe

30.000.000

39.363.223

Vũ

máy

Nhật

Tiên 32 4004984744 Vũ Thị 16.09.2020 Xe

80.000.000

30.875.870

Huệ

máy

33 4005360359 Trần

10.10.2020 Xe

60.000.000

24.694.690

Thị

máy

Mộng

Trinh 34 4005385153 Lê Thị 25.10.2020 Xe

7.500.000

9.097.000

Lan

máy

35 4005898957 Vũ Thị 12.11.2020 Xe

24.000.000

29.053.860

Thảo

máy

36 4005441431 Lê Thị 15.10.2020 Tiền 10.000.000

11.816.000

Lan

mặt

37 4101636646 Trần

05.04.2021 Tiền 30.000.000

6.120.000

Văn

mặt

Phúc 38 4102078299 Trần

01.05.2021 Tiền 11.000.000

13.596.000

Quay

mặt

Phụng 39 4005012292 Vũ Thị 18.09.2020 Thẻ 195.000

195.000

Thảo

tín

dụng

40 4005943370 Phan

15.11.2020 Thẻ 17.943.456

17.943.456

Thành

tín

dụng

Tuấn 41 4006521802 Trần

22.12.2020 Thẻ 11.739.453

11.739.453

Thế

tín

dụng

Thiên 42 4101636349 Trần

05.04.2021 Thẻ 14.266.661

2.750.000

Văn

tín

dụng

Phúc 43 4101682355 Vũ Thị 08.04.2021 Thẻ 9.008.616

9.008.616 0

Thùy

tín

dụng

Trang 44 4101795411 Trần

14.04.2021 Thẻ 15.324.592

3.800.000 11.524.592

Xuân

tín

dụng

Thành 45 4101810953 Thạch

15.04.2021 Thẻ 13.169.739

5.190.000 7.97.739

Thiết

tín

dụng

Tường 46 4102262370 Nguyễn 11.05.2021 Thẻ 8.665.000

8.665.000 0

Đức

tín

dụng

Trọng 47 4102499989 Nguyễn 23.05.2021 Thẻ 12.600.000

12.600.000 0

Văn

tín

dụng

Bắc

Tổng

1.153.802.517 798.244.245 355.558.272

Tài liệu thu giữ được lưu hồ sơ vụ án:

- 47 (bốn mươi bảy) hồ sơ vay thẻ tín dụng, vay tiền mặt và vay mua sản phẩm trả góp.

- 01 (một) hình ảnh thể hiện nội dụng ngày 30/12/2020, Đỗ Minh T xác nhận việc nhận lại số tiền 10.000.000 đồng từ bà Nguyễn Thị V, với lý do “Làm lộn Code. Shop. Số HĐ: 4006635043”, có chữ ký chữ viết mang tên Đỗ Minh T và có điểm chỉ vân tay (bút lục số 69).

- 01 USB ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai bị can Đỗ Minh T.

2. Trách nhiệm dân sự:

Đỗ Minh T đã khắc phục được số tiền 798.244.245 đồng cho Công ty T1, còn lại số tiền 355.558.272 đồng. Công ty T1 yêu cầu Đỗ Minh T phải trả lại số tiền 608.804.505 đồng cho công ty, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi.

3. Cáo trạng và trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Cáo trạng số: 129/CT-VKS-P2 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã quyết định truy tố Đỗ Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Minh T từ 13 năm đến 15 năm tù;

- Bồi thường dân sự theo quy định.

4. Trình bày của bị cáo và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Bị cáo và bị hại vẫn giữ nguyên ý kiến và lời khai trong quá trình điều tra và truy tố; đồng thời, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả.

5. Người bào chữa cho bị cáo trình bày tại phiên tòa:

Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tích cực hợp tác trong quá trình điều tra; hoàn cảnh phạm tội do khó khăn về kinh tế gia đình, nhận thức pháp luật kém và đang trong cao điểm dịch Covid-19. Việc Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là không đúng với khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số: 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và quyết định cho các bị cáo mức án nhẹ nhất và dưới khung hình phạt.

6. Nội dung khác có liên quan:

Đối với các chủ cửa hàng mua bán nội thất, xe máy là anh Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị V, bà Bùi Thị Kim N1 và bà Bùi Trần P1; những người này không có bàn bạc với Đỗ Minh T, nên khi T nói dối “Khách hàng hủy hợp đồng hoặc hợp đồng sai mã Code”, T đến xin nhận lại tiền, để hủy hợp đồng và trả lại tiền cho công ty, nên các chủ đại lý trên đã tin tưởng đưa tiền cho T; do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.

Về tội danh bị truy tố:

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Minh T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả. Đỗ Minh T là nhân viên hỗ trợ kinh doanh của Công ty T1 (không có chức năng, nhiệm vụ thu tiền cho công ty). Từ tháng 4/2020 đến tháng 5/2021, với các thủ đoạn được mô tả trên, T đã lập ra 47 hợp đồng tín dụng đứng tên của khách hàng, để chiếm đoạt số tiền 1.153.802.517 đồng của Công ty T1.

Cáo trạng truy tố là có căn cứ, đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Đỗ Minh T phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Đỗ Minh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần cho bị hại. Tại phiên tòa, đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo.

3.3. Về hình phạt và biện pháp ngăn chặn:

Hành vi của bị cáo Đỗ Minh T là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với vai trò và hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Minh T, để bảo đảm cho việc thi hành án.

Về dân sự:

Tại phiên tòa, đại diện Công ty T1 tự nguyện giảm bớt yêu cầu, chỉ đề nghị bị cáo Đỗ Minh T phải tiếp tục bồi thường số tiền gốc là 355.558.272 đồng.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và bị hại được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2025.

3. Biện pháp ngăn chặn:

Căn cứ khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Minh T theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để bảo đảm thi hành án.

4. Dân sự:

Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 5 Điều 275 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Đỗ Minh T phải tiếp tục bồi thường cho Công ty T1 số tiền 355.558.272 đồng (ba trăm năm mươi lăm triệu năm trăm năm mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi hai đồng).

5. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường và thi hành án:

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành các số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Án phí:

- Buộc bị cáo Đỗ Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Buộc bị cáo Đỗ Minh T phải nộp (đã làm tròn) 17.770.000 đồng (mười bảy triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Quyền kháng cáo:

Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ