vanban.org

Bản án 280/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 N quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử phạt bị cáo Võ Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2023/HS-ST
Ngày 01-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga.

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Đẹp.

2. Ông Phạm Văn Chính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Hóc Môn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu- Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 255/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 157/2022/HSST-QĐ ngày 16/11/2022 đối với bị cáo:

Võ Văn H. Sinh ngày 1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: 105/3H ấp TT2, xã TH, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 3/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Võ Văn S, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Minh L, sinh năm 1958. Vợ Nguyễn Thị O, sinh năm 1992 có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án; Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 30/8/2016 bị TAND Quận Tân Phú xử phạt 06 tháng tù giam

về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 172/2016/HSST

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2023 chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị hại:

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 2000. Địa chỉ: 36/3E LTK, xã XTS, huyện Hóc

Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Chị Lê Ngọc Q, sinh năm 1997. Địa chỉ: Nhà không số tổ A, ấp B, xã XTT,

huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phan Công X. Địa chỉ: 14/1 tổ C, khu phố D, thị trấn HM, huyện Hóc

Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Trọng N. Địa chỉ: Xóm E, xã HL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Văn H. Địa chỉ:18/4 ĐTV, ấp TĐ, xã TTT, huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn H không có công việc ổn định, cần tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định đi

đến các cửa hàng Winmart giả vờ hỏi mua hàng, lợi dụng lúc nhân viên bán hàng sơ hở thì H sẽ trộm cắp tài sản. H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ 1: Vào khoảng 11 giờ ngày 13/06/2023, H điều khiển xe gắn máy hiệu

Honda Wave màu đen mang biển số: 37N1 – 0659 đến cửa hàng Winmart (địa chỉ: 34/5B đường Trung Mỹ - Tân Xuân, ấp Mỹ Huề, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn) để tìm tài sản lấy trộm. Tại đây, H gặp anh Nguyễn Văn S (Sinh năm 2000, HKTT: 36/3E Lê Thị Kim, ấp 4, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn) đang đứng bán hàng tại quầy thu ngân. H nói với S là cần mua sữa nên S đến khu vực để sữa để lấy cho H. Lợi dụng sơ hở của S, H đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại đi động hiệu Xiaomi 11 Lite màu đen của S để tại quầy thu ngân bỏ vào túi quần rồi trốn khỏi cửa hàng. H mang điện thoại mới trộm được đến cửa hàng điện thoại Long Hải (18/4 Đặng Thúc Vịnh, ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn) bán cho anh Nguyễn Văn H – chủ tiệm điện thoại, được 1.800.000 đồng. Số tiền này, H đã tiêu xài cá nhân hết. S quay lại quầy thu ngân phát hiện điện thoại di động đã bị lấy cắp nên trình báo Công an xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn.

Vụ thứ 2: Lúc 11 giờ 45 phút ngày 18/6/2023, H điều khiển xe máy biển số 37N1-

0659 đến cửa hàng Winmart+ (địa chỉ: 101/2 ấp 4, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh) tìm tài sản để trộm. Đến cửa hàng, H gặp chị Lê Ngọc Q (Sinh năm 1997, HKTT: ấp F, XH, XL, Đồng Nai; Nơi ở hiện tại: nhà không số, tổ A, ấp B, XTT, Hóc Môn) đang đứng bán hàng tại quầy thu ngân. H nói với Q là cần mua sữa nên Q đến khu vực để sữa để lấy cho H. Lợi dụng sơ hở của Q, H đã lấy trộm 01 điện thoại đi động hiệu Oppo Reno 8Z 5G của Q để tại quầy thu ngân bỏ vào túi quần rồi rời khỏi cửa hàng. H mang điện thoại mới trộm được đến cửa hàng điện thoại di động Thịnh Phát (số 14/1 Khu phố C, thị trấn HM, huyện Hóc Môn) bán cho anh Phan Công X – chủ tiệm điện thoại, được 2.500.000 đồng. Số tiền này, H đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại, chị Q đã đến trình báo Công an xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn.

Kết luận định giá tài sản số 97/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản

trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại Oppo Reno 8Z 5G, trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại Xiaomi 11 Lite màu đen, trị giá 3.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại hiệu Oppo Reno 8 Z 5G, số Imei 1: 863921065322250, số Imei 2: 863921065322243, do Phan Công X – Chủ cửa hàng điện thoại di động Thịnh Phát giao nộp. Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Q.

- 01 xe máy biển số 37N1-0659, số máy: VDGZS152FMHWM0004823, số khung: RNDWCH0ND61Y08423. Kết quả giám định số khung, số máy nguyên thủy. Qua xác minh, xe máy biển số 37N1-0659 có chủ sở hữu là Nguyễn Trọng N (Sinh năm 1984; HKTT: Xóm E, xã HL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Anh N cho biết: N đứng tên giấy đăng ký xe trên vào năm 2007, sau đó, N bán lại cho một người (không rõ lai lịch) vào năm 2011, không làm thủ tục sang tên. N không có yêu cầu gì. H khai mua xe trên của 01 người không rõ lai lịch vào năm 2018 với giá 2.500.000 đồng.

- 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 áo sơ mi sọc caro; 01 quần màu xanh; 01 đôi dép màu đen.

Đối với điện thoại Xiaomi 11 Lite màu đen, anh Nguyễn Văn H, chủ tiệm điện

thoại Long Hải đã bán lại cho khách hàng (không rõ lai lịch) nên không thu hồi được.

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn S yêu cầu H bồi thường số tiền 3.000.000 đồng.

Anh Phan Công X, chị Lê Ngọc Q không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 251/VKS-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hóc Môn, thực hành

quyền công tố giữ nguyên cáo trạng đề N Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52 Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm năm tù.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng: 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 áo sơ mi sọc caro; 01 quần màu xanh; 01 đôi dép màu đen.

Giao Chi cục Thi hành án có thẩm quyền đăng thông báo tìm chủ sở hữu đối

với 01 xe máy biển số 37N1-0659, số máy VDGZS152FMHWM 0004823, số khung RND WCH0ND61Y08423, xe có chủ sở hữu là Nguyễn Trọng N, có địa chỉ: Xóm E, xã HL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, N bán lại cho một người không rõ lai lịch, bị cáo mua vào năm 2018 không có giấy. Hết thời hạn 01 năm không tìm được chủ sở hữu thì xử lý nộp Ngân sách nhà nước.

Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn S số tiền 3.000.000

đồng

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: bị cáo hối hận, mong Hội đồng xét xử xem

xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập cuộc sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình: Do

muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã có hành vi lén lút trộm tài sản là điện thoại di động của anh S và chị Q. Kết luận định giá tài sản số 97/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại Oppo Reno 8Z 5G, trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại Xiaomi 11 Lite màu đen, trị giá 3.000.000 đồng.

Nội dung khai nhận của các bị cáo Võ Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời

khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời nhận tội của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, biên bản định giá và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng, tổng tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là hai điện thoại di động có giá 7.000.000 đồng.

Như vậy có đủ cơ sở chứng minh Võ Văn H có hành vi trộm cắp tài sản với

mục đích để bán tiêu xài cá nhân, đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy; Cáo trạng số 251/VKS-HS ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo

H thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, vi phạm pháp luật hình sự, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo lười lao động, hành vi trộm cắp tài sản nhằm mục đích tiêu xài cá nhân làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Từ đó, Hội đồng xét xử cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi vi phạm của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ như: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tặng nặng: bị cáo thực hiện hành vi hai lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn S yêu cầu bị cáo bồi

thường số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo H đồng ý bồi thường

Xử lý vật chứng: Xét thấy;

Đối với 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 áo sơ mi sọc caro; 01 quần màu xanh; 01 đôi dép màu đen của bị cáo mặc khi phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy biển số 37N1-0659, số máy VDGZS152FMHWM 0004823,

số khung RND WCH0ND61Y08423, xe có chủ sở hữu là Nguyễn Trọng N, có địa chỉ: Xóm E, xã HL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, N bán lại cho một người không rõ lai lịch, bị cáo mua vào năm 2018 không có giấy. Xét thấy, cần giao Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền truy tìm chủ sở hữu. Hết thời hạn 01 năm nếu không tìm được chủ sở hữu thì xử lý đối với tài sản vắng chủ nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy có số 0091370 do Công an tỉnh Nghệ An

cấp cho Nguyễn Trọng N biến số xe đăng ký 37N1-0659 trong hồ sơ vụ án, cần giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý theo xe máy biển số nêu trên

Đối với 01 thẻ nhớ màu đen chứa dữ liệu liên quan vụ án, cần lưu vào hồ sơ vụ án.

Đối với 01 điện thoại hiệu Oppo do Phan Công X; Chủ cửa hàng điện thoại di động Thịnh Phát giao nộp, chị Q đã nhận lại, chị Q không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với điện thoại Xiaomi 11 Lite màu đen, anh Nguyễn Văn H, chủ tiệm điện

thoại Long Hải đã bán lại cho khách hàng (không rõ lai lịch) nên không thu hồi được.

Anh X và anh H không biết tài sản do bị cáo trộm nên mua đi bán lại, không đủ

cơ sở xử lý hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều

52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ

sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 N quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Võ Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài

sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/6/2023.

2. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Võ Văn H bồi thường cho anh Nguyễn Văn

S số tiền 3.000.000 đ (ba triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi

hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 áo sơ mi sọc caro; 01 quần

màu xanh; 01 đôi dép màu đen.

Giao 01 xe máy biển số 37N1- 0659, số máy VDGZS152FMHWM 0004823,

số khung RND WCH0ND61Y08423 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục quản lý và thông báo tìm kiếm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Nếu trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn thông báo tìm kiếm chủ sở hữu, mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe gắn máy nêu trên có yêu cầu thì sẽ được xem xét theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn nêu trên, nếu không có ai yêu cầu thì xe gắn máy nêu trên được sung quỹ Nhà nước.

Lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ chứa dữ liệu liên quan vụ án.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn giữ theo biên bản

giao nhận vật chứng ngày 04/10/2023) (bút lục 140)

Giao Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn 01 giấy đăng ký mô tô, xe

máy có số 0091370 do Công an tỉnh Nghệ An cấp cho Nguyễn Trọng N biển số xe đăng ký 37N1-0659).

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Võ Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) và 300.000đồng (ba trăm ngàn) án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành các khoản tại Cơ quan Thi hành Dân sự có thẩm quyền.

4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng lên Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ