vanban.org

Bản án 280/2022/DS-ST — Dân sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 23/10/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Mạnh T.

Buộc ông Đỗ Minh H phải thanh toán cho ông Trương Mạnh T số tiền 77.337.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng ông H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Trần Mạnh T kiện Đỗ Minh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Mạnh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2022/DS-ST
Ngày: 29-9-2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Minh Bền

2. Bà Vũ Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 419/2022/TLST - DS ngày 05 tháng 8 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 271/2022/QĐXXST - DS ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trương Mạnh T, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Ấp 5, xã T, thành phố C, tỉnh C.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án: Chị Nguyễn Tố Như, sinh năm: 1995. (Có mặt).

Bị đơn: Ông Đỗ Minh H. Nơi cư trú: Ấp 1, xã TV, thành phố C, tỉnh C. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, chị Nguyễn Tố Như trình bày:

Từ năm 2015, ông Trương Mạnh T có bán thức ăn thủy sản, thuốc, men vi sinh cho ông Đỗ Minh H để ông H nuôi cá, tôm. Đến ngày 10/5/2022, giữa ông T và ông H đã tiến hành đối chiếu công nợ. Theo đó, ông H còn nợ ông T số tiền 77.337.000 đồng. Sau khi đối chiếu công nợ, ông T nhiều lần yêu cầu ông H thanh toán số tiền trên nhưng đến nay ông H chưa thanh toán.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông H có trách nhiệm thanh toán số tiền 77.337.000 đồng.

Đối với ông Đỗ Minh H: Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông H đến Tòa án để tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng ông H vắng mặt không rõ lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để triệu tập Đỗ Minh H đến Tòa án để tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông H vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H là đúng quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Trương Mạnh T yêu cầu ông Đỗ Minh H thanh toán tiền 77.337.000 đồng, thấy rằng: Tại giấy xác nhận công nợ thể hiện: Tính đến thời điểm ngày 10/5/2022, ông Đỗ Minh H xác định còn nợ tiền thức ăn của ông Trương Mạnh T số tiền 77.337.000 đồng.

Theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh thì “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Trong vụ án này, Tòa án đã tống đạt đầy đủ, hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho ông H nhưng ông H không có ý kiến phản đối cũng như cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ, chứng minh để phản đối việc ông T khởi kiện ông.

Từ phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Mạnh T về việc buộc ông H thanh toán số tiền 77.337.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92; Điều 147; Điều 244; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 430 và Điều 440 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Mạnh T.

- Buộc ông Đỗ Minh H phải thanh toán cho ông Trương Mạnh T số tiền 77.337.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng ông H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Đỗ Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 3.867.000 đồng. Ngày 05/8/2022, ông T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 1.933.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (theo biên lai số 0001853) được nhận lại.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ