vanban.org

Bản án 280/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh T1 phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh T1 phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh T1 phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2021/HS-ST
Ngày: 25/11/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thông

2. Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Bùi Thanh T1-Sinh năm 1984; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Số 18, ngõ 1 phố T, phường Q, quận H, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Bùi Văn T2 – Sinh năm 1960; con bà Đinh Thị Y – Sinh năm 1962; Anh, chị, em ruột: có 2 người, bị cáo là lớn nhất; Vợ: Nguyễn Thị A – Sinh năm: 1984 (đã ly hôn); có 1 con sinh năm: 2010; Tiền án, tiền sự: không; *Nhân thân: 1. Bản án số 117/HSST ngày 10/8/2006 của TAND thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là quận Hà Đông, TP Hà Nội) xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 06/5/2007, đã được xoá án tích. 2. Bản án số 34/2008/HSST ngày 12/3/2008 của TAND thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là quận Hà Đông, TP Hà Nội) xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 23/12/2008, đã được xoá án tích. 3. Bản án số 250/2012/HSST ngày 21/8/2012 của TAND quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2014, đã được xoá án tích. 4. Bản án số 194/2017/HSST ngày 19/12/2017 của TAND quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt 01 năm 08 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt ngày 24/12/2018, đã được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ đầu thú từ ngày 25/7/2021 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Danh chỉ bản số 648 ngày 30/7/2021 lập tại Công an quận Hà Đông. Có mặt.

- Bị hại: Bệnh viện Đ; Trụ sở: Số 2 phố B, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T3 - Trưởng phòng Hành chính - Quản trị (văn bản ủy quyền số 776/GUQ-GĐBVHĐ ngày 26/7/2021); Vắng mặt, có Đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Việt H – Sinh năm: 1989; Địa chỉ: Số 18, ngõ 1 phố T, phường Q, quận H, TP Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền ăn tiêu, khoảng 12 giờ ngày 21/7/2021 T1 điều khiển xe máy nhãn hiệu V, BKS: 29X1-164.01 từ nhà đến khu đường ven hồ Đầm Khê (phía sau bệnh viện Đ), phường Q, quận H với mục đích xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến cổng sau bệnh viện Đ, T1 đỗ xe ở lề đường rồi trèo qua tường rào vào bên trong bệnh viện. Sau đó, T1 đi đến khu xử lý rác thải, tới nhà điều hành điện của trạm xử lý nước thải của bệnh viện, thấy cửa ra vào khóa, trên cửa có một ô bị vỡ. Quan sát thấy bên trong nhà điều hành có 01 máy bơm nước thải đặt chìm nhãn hiệu Z model DGO 200/G50 và 01 động cơ bơm chìm nhãn hiệu F CS 22kW-380V-50Hz. Thấy không có người ở đó, T1 lấy 01 thanh gỗ tại đây và buộc dây vào một đầu thanh gỗ chọc qua khe cửa nhà điều hành điện, gạt được dây điện của máy bơm, động cơ bơm chìm và kéo được ra ngoài. Sau đó, T1 bọc máy bơm và động cơ bơm chìm trong túi nilong rồi trèo tường đi ra ngoài bệnh viện theo lối cũ. T1 đặt máy bơm và động cơ bơm chìm ở giữa xe máy BKS: 29X1-164.01 rồi đi theo đường ven hồ Đầm Khê ra đường Nguyễn Viết Xuân, phường Quang Trung, quận Hà Đông. Khi đến trước số nhà 94 đường Nguyễn Viết Xuân, T1 gặp một người phụ nữ không quen biết đi xe đạp thu mua phế liệu, T1 nói dối máy bơm và động cơ bơm chìm bị hỏng muốn bán. Sau đã bán cho người phụ nữ được 220.000 đồng và ăn tiêu hết.

Đến ngày 25/7/2021, bệnh viện Đ phát hiện bị mất 01 máy bơm nước thải đặt chìm Z model DGO 200/G50 và 01 động cơ bơm chìm F CS 22kW-380V-50Hz, đã trình báo Công an phường Quang Trung để xác minh, làm rõ. Cùng ngày, nhận thấy sự việc sẽ bị phát hiện, Bùi Thanh T1 đã ra đầu thú tại Công an phường Quang Trung và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Công an phường Quang Trung đã thu giữ chiếc xe máy nhãn hiệu V, màu sơn trắng-đen, BKS: 29X1-164.01 của Bùi Thanh T1, sau bàn giao đối tượng và hồ sơ vụ việc cho Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông điều tra xử lý.

Ngày 26/7/2021, Cơ quan điều tra có văn bản yêu cầu định giá tài sản của vụ trộm cắp tại trạm xử lý nước thải bệnh viện Đ. Tại biên bản và kết luận định giá tài sản số 227/KLĐG ngày 26/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Hà Đông, kết luận:

- 01 máy bơm nước thải đặt chìm Z model DGO 200/G50, đã qua sử dụng trị giá 3.000.000 đồng;

- 01 động cơ bơm chìm F CS 22kW-380V-50Hz, đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản vụ trộm cắp tại thời điểm định giá là: 7.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, trên cơ sở lời khai của Bùi Thanh T1 cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng của vụ án nhưng không có kết quả.

Trước cơ quan điều tra, Bùi Thanh T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp hiện có trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 242/CT-VKS-HĐ ngày 05/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Thanh T1 về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy bị cáo Bùi Thanh T1 về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo T1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo phải bồi thường cho bị hại 7.000.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng phản ánh, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người đầu thú, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu đã thu thập được. Nên đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền ăn tiêu, khoảng 12 giờ ngày 21/7/2021 Bùi Thanh T1 đi xe máy BKS: 29X1-164.01 từ nhà ra khu vực hồ Đầm Khê phía sau bệnh viện Đ, địa phận phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Sau T1 đột nhập trèo tường vào bên trong quan sát tìm kiếm và lấy trộm được 01 máy bơm nước thải đặt chìm Z model DGO 200/G50 và 01 động cơ bơm chìm F CS 22kW-380V-50Hz đặt tại khu vực Nhà điều hành điện của bệnh viện rồi đem bán cho người phụ nữ không quen biết đi thu mua phế liệu được 220.000 đồng ăn tiêu hết. Tài sản chiếm đoạt của bệnh viện định giá có tổng trị giá là 7.000.000 đồng.

Chiếc xe máy nhãn hiệu V màu trắng-đen, BKS: 29X1-164.01, số khung 002000, số máy 70012000 thu giữ của Bùi Thanh T1: Quá trình điều tra xác định là xe của Bùi Việt H – Sinh năm: 1989 (là em trai của T1 ở cùng địa chỉ); xe đăng ký mang tên Nguyễn Văn S – Sinh năm: 1986, trú tại: xã Đ, huyện C, Hà Nội, anh S đã bán cho anh H vào năm 2020. Ngày 21/7/2021, anh H cho bị cáo T1 mượn xe, sau T1 sử dụng xe vào việc phạm tội thì anh H không được biết. Ngày 13/9/2021, Cơ quan điều tra đã xử lý trả xe cho anh H, là có căn cứ pháp luật

Bị cáo khai đã bán máy bơm và động cơ bơm chìm cho một người phụ nữ không quen biết đi xe đạp thu mua phế liệu số giá 220.000 đồng. Ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác thể hiện việc mua bán trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Bùi Thanh T1 về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phải đi chấp hành hình phạt tù cho thấy bị cáo là người coi thương pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân.Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo ra đầu thú, có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho Bệnh viện Đ số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về quyết định truy tố bị T1 về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo T1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần phải có biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe phòng ngừa chung nên cần phạt tù giam đối với bị cáo.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh T1 phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T1 15 (mười lăm) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/7/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Thanh T1 phải bồi thường cho Bệnh viện Đ số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) (chưa nộp).

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (chưa nộp).

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ