vanban.org

Bản án 280/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Đoàn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Đặng Đoàn M 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 01/3/2019. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đoàn Mạnh - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Đoàn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2019/HS-ST
Ngày: 19/6/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNHTN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đồng Huy Hưởng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lan Hương, bà Lê Thị HLương

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân thành phố TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 265/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Hä vµ tªn: Đặng Đoàn M, sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Xóm Ao Voi, phường Đồng Bẩm, thành phố TN, tỉnh TN.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12

Con ông: Đặng Đoàn H, sinh năm 1964, con bà: Đinh Thị P, sinh năm 1968.

Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất, vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2019).

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1993

Trú tại: Xóm Hóa, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh TN

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Tạ H P, sinh năm 1990

Trú tại: Tổ 15, phường Chùa Hang, thành phố TN, tỉnh TN (Vắng mặt)

- Chị Vũ Thị H, sinh năm 1980

Trú tại: Xóm Ao Voi, phường Đồng Bẩm, thành phố TN, tỉnh TN (Vắng mặt)

Người làm chứng: Anh Nguyễn Việt T, sinh năm 1991

Trú tại: Tổ 10, phường Túc Duyên, thành phố TN, tỉnh TN (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Đặng Đoàn M nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS: 20M7-2511 của anh Nguyễn Văn C (sinh năm 1993, trú tại xóm Hóa, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh TN) để mang đi cầm cố. Khoảng 10 giờ ngày 28/02/2012, M gọi điện thoại cho anh C hỏi mượn xe, M nói dối là đi có việc riêng, xong việc sẽ mang xe về trả. Anh C đồng ý cho M mượn xe. Trước đó anh C có để xe tại nhà anh Mai Lê Sơn T (sinh năm 1988, trú tại tổ 10, phường Túc Duyên, thành phố TN, tỉnh TN) nên anh C bảo M đến nhà anh T lấy xe. M đi xe ôm đến nhà anh T lấy xe thì gặp chị Nguyễn Việt T (sinh năm 1991, trú tại tổ 11, phường Trưng Vương, thành phố TN, tỉnh TN) là vợ của anh T. Chị Trinh giao chìa khóa và chiếc xe trên cho M, M một mình điều khiển xe đến cầm cố cho Tạ H P (sinh năm 1990, trú tại tổ 15, phường Chùa Hang, thành phố TN, tỉnh TN) lấy số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Số tiền có được M mang đi trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 13/3/2012 anh C đã làm đơn trình báo Công an phường Túc Duyên, thành phố TN đề nghị giải quyết (BL: 51). Đến ngày 14/3/2012 chị Vũ Thị H (sinh năm 1980, trú tại tổ 2, xóm Ao Voi, phường Đồng Bẩm, thành phố TN, tỉnh TN) là mẹ kế của M đã chuộc lại chiếc xe trên mang về trả cho anh C.

Tại Kết luận định giá số 51/HĐĐGTS ngày 17/3/2012 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố TN kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu sơn đỏ - đen, BKS: 20M7-2511, số khung 460588, số máy 6460602 trị giá: 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Đoàn M đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai của M phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, lời khai người bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản.

* Vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ - đen, BKS: 20M7-2511, số khung 460588, số máy 6460602, xe đã qua sử dụng. Hiện đã được trả lại cho anh C quản lý, sử dụng. Anh C và bà Hkhông yêu cầu, đề nghị gì.

Tại bản Cáo trạng số: 267/CT -VKSTPTN ngày 09 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN đã truy tố bị cáo Đặng Đoàn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Đoàn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm i, s khoản 1Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Đặng Đoàn M từ 12 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”là không oan, đúng người, đúng tội.

Phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố TN và Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN đã tiến hành đầy đủ các thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cùng vớ i biên bản sự viê ̣c, vâ ̣t chứ ng thu giữ, lời khai của ngườ i làm chứ ng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ ngày 28/02/2012, tại tổ 10, phường Túc Duyên, thành phố TN, do không có tiền chi tiêu cá nhân, Đặng Đoàn M đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là mượn xe của anh Nguyễn Văn C để lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ - đen, BKS: 20M7-2511 của anh C trị giá 8.000.000 đồng.

Với hành vi trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội: tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điề 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt: Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo thành người lương thiện. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện sự khoan Hcủa pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 139 BLHS. Tuy nhiên xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản. Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ - đen, BKS: 20M7-2511, số khung 460588, số máy 6460602, xe đã qua sử dụng. Hiện đã được trả lại cho anh C quản lý, sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn C là chủ sở hữu chiếc xe mô tô không yêu cầu, đề nghị gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Đoàn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Đặng Đoàn M 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 01/3/2019.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo : Đặng Đoàn M 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

3. Quyền kháng cáo bản án: Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ