vanban.org

Bản án 280/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 04/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lại Duy P – Sửa bản án sơ hình sự thẩm số 31/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. [2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Duy P phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 280/2018/HSPT
Ngày: 04-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng

- Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Đức

Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Minh Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 04/9/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 246/2017/HSPT ngày 26/7/2018 đối với bị cáo Lại Duy P về tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo Lại Duy P kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lại Duy P, tên gọi khác: N; Sinh năm: 1995, tại tỉnh K; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Đường P, phường C, thành phố T, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lại Đức D và bà Tô Thị N1; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01, tại bản án hình sự sơ thẩm số 349/2014/HSST ngày 25/12/2014 của Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 01/10/2016 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Lê Thị T

Địa chỉ: Thị trấn Q, huyện G, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 05/3/2018, Lại Duy P, sinh năm 1995, trú tại số nhà M đường P, phường C, thành phố T, tỉnh Đắk Lắk điều khiển xe mô tô mang Biển kiểm soát 47N3-2512 chở bạn tên T1 (không xác định được nhân thân, lai lịch) từ thành phố Buôn Ma Thuột đến gần chùa L thuộc Tổ dân phố 0, Thị trấn Q, huyện G thì dừng xe để T1 đi bộ về nhà. Còn P điều khiển xe mô tô trên đến chợ Thị trấn Q để mua đồ ăn. Khi đi ngang qua quầy trái cây trước số nhà N, đường D, Tổ dân phố 0, Thị trấn Q của chị Lê Thị T, sinh năm 1980, trú tại: Thị trấn Q, huyện G, tỉnh Đắk Lắk, thì thấy chị T đang ngủ trên ghế xếp. Lúc này, P nảy sinh ý định vào tìm kiếm tài sản để trộm cắp. P để xe mô tô cách quầy trái cây của chị T khoảng 10m rồi đi bộ lại. Thấy chị T vẫn đang ngủ, bên cạnh có rổ đựng túi nilông, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Masstel Juno Q5 màu vàng trắng nên P đã ngồi xuống thò tay vào lấy chiếc điện thoại trên rồi đi ra chỗ xe mô tô nhằm tẩu thoát.

Lúc này chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã Q1, huyện G đang quét rác trước số nhà 109 đường D cách chỗ chị T khoảng 50m nhìn thấy hành vi P lấy trộm chiếc điện thoại nên đã truy hô để chị T cùng người dân xung quanh đến hỗ trợ. Khi bị người dân vây quanh thì P đã lấy chiếc điện thoại trộm cắp được nhét vào tay chị T nhằm chối bỏ hành vi lấy trộm chiếc điện thoại nhưng đã bị chị T cùng người dân bắt giữ và giao P cho cơ quan Công an.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS, ngày 05 tháng 3 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện G đã kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số loại Juno Q5, màu vàng, số IMEI 1: 353873080059028, số IMEI 2: 353873080059036 giá trị còn lại là 2.050.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lại Duy P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lại Duy P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/3/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/6/2018, bị cáo Lại Duy P kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lại Duy P giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử bị cáo Lại Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Xét mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là nghiêm khắc, bởi lẽ giá trị tài sản do bị cáo chiếm đoạt là 2.050.000 đồng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Vì vậy cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lại Duy P, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’Gar về hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lại Duy P từ 09 tháng đến 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/3/2018).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Lại Duy P tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vào ngày 05 tháng 3 năm 2018, tại tổ dân phố 0, thị trấn Q, huyện G, bị cáo Lại Duy P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Masstel Juno Q5 của chị Lê Thị T trị giá 2.050.000 đồng. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Mặc dù bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 25/12/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích. Song quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản do bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Mặt khác, tài sản do bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, ở mức khởi điểm của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân người phạm tội; nhận thấy cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là nghiêm khắc. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy cần sửa bản án sơ hình sự thẩm số 31/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lại Duy P, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lại Duy P – Sửa bản án sơ hình sự thẩm số 31/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lại Duy P 01 (một) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/3/2018).

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Lại Duy P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ