- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 280/2018/DS-PT Ngày 26-10-2018 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Tặng
Các Thẩm phán:
Ông S Danh Đạt
Bà Nguyễn Th V Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Th Ng c Hà-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Biên-Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2018/TLPT-DS ngày 30 tháng 8 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2018/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện T b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 273/2018/QĐ-PT ngày 13 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Dương Th Bích T1, sinh năm: 1968;
Đ a chỉ: Ấp x, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T1: uật sư Võ Th T2-Văn phòng Luật sư X thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp và uật sư Phạm Hoàng Đ-Công ty Luật X1 luật sư Chi nhánh Đồng Tháp, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông V Văn T3, sinh năm: 1966;
3. Anh V Tấn D, sinh năm: 1997;
4. Ch V Th M N, sinh năm: 1996;
Cùng đ a chỉ: Ấp x, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông T3, ch N, anh D: Ông Nguyễn Tr ng K, sinh năm: 1946, đ a chỉ: Ấp x, xã T4, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. à người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/7/2018, ngày 25/6/2018).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Th C1, sinh năm 1970;
Đ a chỉ: Ấp x, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh V Văn V, sinh năm: 1992;
Đ a chỉ: Ấp x, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của anh V: Ông Nguyễn Tr ng K, sinh năm: 1946, đ a chỉ: Ấp x, xã T4, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. à người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/7/2018).
2. Ông ê Văn L, sinh năm: 1952;
3. Ch ê Th C2, sinh năm: 1975;
4. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm: 1976;
5. Ch Nguyễn Th T5, sinh năm: 1998;
6. Anh Nguyễn Văn Minh T6, sinh năm: 2002;
Cùng đ a chỉ: Ấp x, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
7. Văn phòng công chứng Đồng Tháp;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Việt T7, sinh năm: 1968.
Đ a chỉ: Số x, đường N1, khóm M, th trấn M1, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
8. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N2. Chức vụ: Chủ t ch Ủy ban nhân dân huyện T.
Đ a chỉ: Khóm x, th trấn T8, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, ch V Th M N, anh V Tấn D là nguyên đơn.
Bà T1, bà C1, ông K và các uật sư có mặt tại phiên tòa, Ủy ban nhân dân huyện T có đơn xin xét xử v ng mặt, các đương sự còn lại v ng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh V Văn V cùng trình bày tại tòa sơ thẩm:
Nguồn gốc ph n đất tranh chấp là của cha, m để lại cho ông T3 và bà T1 gồm các thửa 541, diện tích 3.746m2; Thửa 1092, diện tích 6.826m2; Thửa 1091, diện tích 1.203m2 và thửa 930, diện tích 5.301m2 và thửa 537 diện tích 5.614m2 ông T3 và bà T1 chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N3 vào năm 1994. Năm 1995 ông T3 kê khai đăng ký và đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t ng diện tích 22.690m2.
Vào khoảng năm 2008, bà T1 và ông T3 có vay tiền và vàng của bà Nguyễn Th Trúc M2, nhưng không tiền trả, nên bà M2 làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện T, Tòa án huyện T buộc bà T1 và ông T3 trả 100 chỉ vàng 24K và 205.000.000 đồng, nhưng bà T1 và ông T3 không thực hiện việc trả nợ, nên Chi cục Thi hành án huyện T kê biên và bán đấu giá ph n đất diện tích 22.690m2 và ông Phan Văn G1 (chồng bà M2) là người mua trúng đấu giá 810.000.000 đồng. Do ph n đất bán đấu giá thấp hơn so v i giá th trường, nên ngày 13/6/2013 bà T1 và ông T3 th a thuận v i ông G1 xin chuộc lại ph n đất v i giá 850.000.000 đồng. Ông G1 và bà M2 giao ph n đất lại cho ông T3 và bà T1 quản lý sử dụng. Do không tiền trả cho bà M2 và ông G1, nên cùng ngày 13/6/2013 bà T1 có th a thuận vay của bà Nguyễn Th C1 số tiền 420.000.000 đồng, thời hạn vay 3 tháng (nhưng bà C1 lấy l i trư c 80.000.000 đồng) và buộc viết biên nhận nợ 500.000.000 đồng và nhận của ch C2 250.000.000 đồng (do đ nh chuyển nhượng đất cho ch C2).
Ngày 18/6/2013 bà C1 kêu bà T1, ông T3 cùng gia đ nh đến Phòng Công chứng làm thủ tục rồi nhận thêm tiền trả cho ch C2 và thêm 80.000.000 đồng trả ông G1, do tin tưởng, nên bà T1, ông T3, anh V có ký tên, nhưng thực tế bà C1 đ sang nhượng 05 thửa đất trên. Sau khi biết b l a dối, gia đ nh bà T1 đ liên tục khiếu nại. Ngày 15/11/2013, UBND x P mời các bên hòa giải, bà C1 đồng ý cho gia đ nh bà T1 chuộc lại 05 thửa đất trên v i giá 822.000.000 đồng. Nhưng bà T1 chỉ đồng ý giá 802.000.000 đồng, còn khoản tiền đóng thuế để sang tên 20.000.000 đồng th không thống nhất. Đến ngày 22/11/2013, bà C1 đ ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông ê Văn L, ch ê Th C2. Hiện nay ông L và ch C2 đ canh tác trên đất. Hồ sơ chuyển nhượng đất chỉ có bà T1, ông T3 và anh V ký tên, còn các thành viên khác trong hộ V Th M N, V Tấn D thì không ký tên.
Nay các nguyên đơn yêu c u Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng (HĐCNQSD) đất giữa hộ gia đ nh bà T1 v i bà C1 theo HĐCNQSD đất số 911/SCC ngày 18/6/2013 và yêu c u bà C1, ông L, ch C2 trả lại 05 thửa đất nêu trên. Đồng ý trả lại số tiền 802.000.000 đồng cho bà C1. Ngoài ra, không có yêu c u g khác.
- B đơn bà Nguyễn Th C1 có đơn đề ngh xét xử v ng mặt, đến nay không có văn bản ý kiến gởi đến Tòa sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ch ê Th C2, đồng thời ch C2 là người đại diện theo ủy quyền của ông ê Văn L, anh Nguyễn Văn V trình bày:
Ngày 13/6/2013 bà T1 và ông T3 th a thuận bán cho ch C2 2 thửa đất 537, 541, diện tích 9.360m2, giá 42.000.000đ/1.000m2, ch C2 đồng ý mua và đem tiền nộp cho Thi hành án. Ch C2 đưa tại Thi hành án là 250.000.000 đồng và trả nợ thay bà T1 cho bà M2 52.000.000 đồng, t ng cộng 302.000.000 đồng và bà C1 trả 420.000.000 đồng tại Thi hành án. Khi đến Ủy ban nhân dân x P tiến hành thủ tục chuyển nhượng th giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa xóa thế chấp, nên không thực hiện được, sau khi xóa thế chấp xong th bà C1 và bà T1 kêu ch C2 đưa giấy đất ch C2 không đưa, nếu đưa th phải trả đủ tiền cho ch C2. Sau đó bà C1 và bà T1 kêu ch C2 đến Phòng Công chứng nhận tiền, nhưng không có tiền nên bà T1 yêu c u bà C1 viết giấy nợ ch C2 302.000.000 đồng h n 01 ngày sau trả đủ. Ngày hôm sau ch C2 cùng bà T1, ông T3, anh V đến Phòng công chứng để bà C1 trả tiền, nhưng không có tiền thì được biết gia đ nh bà T1 ký chuyển nhượng 5 thửa đất cho bà C1.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà C1 th a thuận chuyển nhượng lại cho ch C2 02 thửa là 537 và 541 có t ng diện tích 9.360m2 v i giá 302.000.000 đồng, còn lại 03 thửa th chuyển nhượng cho cha ch C2 là ông L v i giá 500.000.000 đồng. V là chỗ cha con nên ch C2 có nhờ ông L đứng tên giùm thửa số 537. Bà C1 đ tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ch C2 và ông L xong, đến cuối năm 2016 th ch C2 đ nhận chuyển nhượng lại t ông L 03 thửa: 930, 1091, 1092 và ch C2 đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, 05 thửa đất: 537, 541, 930, 1091, 1092 do gia đ nh ch C2 canh tác, chỉ có thửa 537 là nhờ ông L đứng tên giùm.
Ch C2, ông L không đồng ý v i yêu c u của gia đ nh bà T1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ch Nguyễn Th T5, anh Nguyễn Văn Minh T6:
Không có văn bản tr nh bày ý kiến và đề ngh xét xử v ng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T v ng mặt, nhưng có văn bản tr nh bày ý kiến gửi Tòa án:
Tại văn bản số 726/UBND-NC ngày 28/7/2017 về việc cung cấp T3 tin trong lĩnh vực đất đai, Ủy ban nhân dân huyện T có ý kiến:
Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 541 diện tích 3,746m2, thửa 1092 diện tích 6.826m2, thửa 1091 diện tích 1.203m2 , thửa 537 diện tích 5.614 m2 , thửa 930 diện tích 5.301 m2 cùng tờ bản đồ số 06, đất t a lạc tại x P là cấp cho hộ ông V Văn T3.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đ nh ông V Văn T3, bà Dương Th Bích T1 và bà Nguyễn Th C1 do Phòng công chứng công chứng, nên Ủy ban nhân dân huyện không có cơ sở để xác đ nh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các hộ trên có đảm bảo đúng điều kiện, tr nh tự, thủ tục, đối tượng theo quy đ nh của pháp luật hay không.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Văn Phòng Công chứng Đồng Tháp. Người đại diện theo pháp luật ông Huỳnh Việt T7, có ý kiến như sau:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đ nh ông T3 và bà C1 được chứng thực ngày 18/6/2013 tại Văn phòng công chứng Đồng Tháp là đúng theo quy đ nh pháp luật. Hai bên ký tên là sự tự nguyện. Nay hộ gia đ nh ông T3, bà T1 tranh chấp v i bà C1 đề ngh Tòa án căn cứ theo quy đ nh pháp luật giải quyết.
Tại Quyết đ nh bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2018/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện T đ xử:
1. Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V đối v i bà Nguyễn Th C1 về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
2. Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V đối v i ông ê Văn L và ch ê Th C2 về việc yêu c u trả lại 05 thửa đất có t ng diện tích 22.690m2 thuộc các thửa 537, 541, 930, 1091, 1092 cùng tờ bản đồ số 06, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nư c, đất t a lạc tại ấp x, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đất hiện nay do ông ê Văn L và ch ê Th C2 đứng tên.
3. Bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V phải ch u chi phí đo đạc đất số tiền là 22.969.000 đồng (Hai mươi hai triệu chín trăm sáu mươi chín ngh n đồng), hiện đ nộp xong.
4. Về chi phí đ nh giá số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm ngh n đồng) hộ gia đ nh bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V phải ch u, hiện đ nộp xong.
5. Về án phí:
- Bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V liên đ i ch u án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 35.766.000đ, được tr vào số tiền tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai số: xxxx ngày 10/6/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V còn phải nộp thêm số tiền 17.173.000 đồng (Mười bảy triệu một trăm bảy mươi ba ngh n đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03 tháng 8 năm 2018 bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, ch V Th M N, anh V Tấn D kháng cáo. Yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, v ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T1, ông T3, ch N, anh D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
Xuất phát t việc Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T phát m i bán tài sản của ông T3 và bà T1 là 22.690 m2 đất, để thi hành khoản nợ mà bà T1 và ông T3 thiếu bà M2 100 chỉ vàng 24K và 205.000.000 đồng và ông Phan Văn G1 (chồng bà M2) là người mua trúng đấu giá 810.000.000 đồng. Do ph n đất bán đấu giá thấp hơn so v i giá th trường, nên ngày 13/6/2013 bà T1 và ông T3 th a thuận v i ông G1 xin chuộc lại ph n đất v i giá 850.000.000 đồng được ông G1 và bà M2 đồng ý. Do không tiền trả cho bà M2 và ông G1, nên cùng ngày 13/6/2013 bà T1 có th a thuận vay của bà Nguyễn Th C1 số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay 3 tháng và bà T1 th a thuận chuyển nhượng cho ch ê Th C2 thửa đất số 537, 541 bà T1 có nhận của ch C2 250.000.000 đồng và ch C2 có viết biên nhận, nhận nợ của bà M2 52.000.000 đồng thay cho bà T1.
Đến ngày 18/6/2013 ông T3, bà T1, anh V, ch C2 và bà C1 thống nhất là ông T3, bà T1, anh V ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà C1 diện tích đất 22.690m2, hợp đồng có chứng nhận của Phòng Công chứng Đồng Tháp và đến ngày 28/10/2018 bà C1 đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 22.690m2. Bà T1 cho rằng b bà C1 l a dối, nên bà T1, ông T3 và anh V m i ký tên hợp đồng chuyển nhượng, sau khi biết b l a lối bà T1 có khiếu nại nhiều nơi.
Ngày 26/6/2013 Công an huyện T có Văn bản số 247/CAH(ĐTTT) đề ngh Ủy ban nhân dân huyện T, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyên T tạm ngưng chuyển nhượng 22.690m2 đất. Đến ngày 14/8/2013 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T có văn bản số 17/CSĐT xác đ nh: Ngày 06/7/2013 Cơ quan Cảnh sát Điều tra có tiếp nhận đơn tố giác tội phạm l a đảo của bà Dương Th Bích T1 đối v i bà Nguyễn Th C1, kết quả xác minh vụ việc không có dấu hiệu h nh sự.
Mặc dù, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà T1 có đơn khiếu nại, nhưng bà T1 th a nhận bà T1, ông T3 và anh V có đến Phòng Công chứng ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 18/6/2013.
Theo biên bản hòa giải ngày 15/11/2013 của Ủy ban nhân dân x P bà T1 tr nh bày: Trư c đây tôi (T1) có nợ bà C1 500.000.000 đồng vợ chồng tôi đồng ý ký tên chuyển quyền 22.690m2 đất để tr nợ và bà C1 đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay xin chuộc lại 500.000.000 đồng, các chi phí khác không đồng ý. Bà C1 đồng ý cho chuộc lại ph n đất giá 822.000.000 đồng, nhưng bà T1 chỉ đồng ý giá 802.000.000 đồng, bà C1 không thống nhất.
Theo biên bản ghi lời khai ngày 27/02/2017 ch C2 tr nh bày: Khi tại quán nư c g n Phòng Công chứng Đồng Tháp, th ch C2 có nói cho bà T1 biết là bà C1 đem hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất về Ủy ban nhân dân huyện T bà T1 không nói g .
Theo biên bản ghi lời khai ngày 27/02/2017 ông ê Văn L tr nh bày: Ông L có đến bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân huyện T, gặp bà C1 và bà T1. Bà C1 nói v i ông L là đất này bà T1 chuyển nhượng đất hết cho bà C1 rồi th bà T1 có mặt, có nghe nhưng không có ý kiến g .
Tại theo biên bản ghi lời khai ngày 28/6/2013 tại Cơ quan Công an huyện T th bà T1 tr nh bày: Ngày 14/6/2013 bà T1 cùng ch C2, bà C1 đến Ủy ban nhân dân xã làm thủ tục chuyển nhượng đất cho ch C2, nhưng ở x nói chưa xóa thế chấp…Qua ngày hôm sau (ngày 19/6/2018) bà T1 có cùng ch C2 đến nhà bà C1 thì bà C1 nói đất của tôi (T1) đ sang tên cho bà C1 muốn thưa đâu th thưa. Đến ngày hôm sau (tức 20/6/2013) tôi (T1) cùng chồng đi chợ T chạy ngang qua một cửa ở Ủy ban nhân dân huyện th thấy bà C1 ở đó, nên tôi (T1) lại h i th m i biết bà C1 đang làm thủ tục sang tên ph n đất của vợ chồng tôi cho bà C1, do đó tôi (T1) làm đơn gởi Công an can thiệp.
Mặt khác, sau khi bà T1 khiếu nại đến Cơ quan Công an huyện T, Công an huyện T có văn bản đề ngh tạm ngưng việc chuyển nhượng đất, đến ngày 23/9/2013 Công an huyện T có văn bản số 448/CAH, đề ngh Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tiến hành cho chuyển nhượng đất theo quy đ nh của pháp luật, nhưng t ngày 26/6/2013 đến ngày 28/10/2013 (ngày 28/10/2013 bà C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) th về phía bà T1, ông T3 c ng không có văn bản nào đề ngh Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển d ch quyền về tài sản đối v i tài sản đang tranh chấp.
Như vậy, chứng t bà T1 và ông T3 biết là ngày 18/6/2013 bà T1, ông T3 và anh V ký hợp đồng tại Phòng Công chứng Đồng Tháp là để chuyển nhượng quyền sử dụng 22.690m2 đất cho bà C1, nên việc bà T1 cho rằng bà C1 l a dối là không có căn cứ.
Đối v i việc ch N và anh D cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/2013 ch N và anh D là thành viên trong hộ gia đ nh nhưng không có ký tên, nên yêu c u hủy hợp đồng ngày 18/6/2013. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 xác đ nh các thửa đất số 541, diện tích 3.746m2; Thửa 1092, diện tích 6.826m2; Thửa 1091, diện tích 1.203m2 và thửa 930, diện tích 5.301m2 là đất của cha, m cho ông T3 và bà T1, nhưng không nh năm nào. Tuy nhiên, bà T1 xác đ nh việc cha m cho đất trư c khi chuyển nhượng đất của ông N3 (năm 1994) và còn thửa 537 diện tích 5.614m2 th ông T3 và bà T1 chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N3 vào năm 1994.
Như vậy, vào thời điểm chuyển nhượng đất của ông N3 th ch N và anh D còn nh , ph n đất còn lại là của cha, m cho ông T3 và bà T1, nên ch N và anh D không có công sức đóng góp vào ph n đất tranh chấp, nên việc quyền quyết đ nh là của ông T3 và bà T1.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1 tr nh bày nội dung vụ án cho rằng bà T1 chỉ có vay tiền của bà C1 420.000.000 đồng, bà T1 không có chuyển nhượng đất cho bà C1, việc bà C1 làm hợp đồng chuyển nhượng là có sự nh m l n, bà C1 không có ý chí chyển nhượng đất và các thành viên trong hộ không có ký tên, nên hợp đồng ngày 18/6/2013 là giao d ch dân sự vô hiệu và đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà T1. Xét thấy, c ng như ph n nhận đ nh trên đề ngh của uật sư là không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh, phát biểu việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng chấp hành tốt quy đ nh của pháp luật và đề xuất hư ng giải quyết là không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn. Xét thấy, c ng như ph n nhận đ nh trên đề ngh của Viện kiểm sát là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề ngh của Viện kiểm sát.
T những cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T1, ông T3, ch N và anh D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Các ph n còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể t ngày hết hạn kháng cáo, kháng ngh .
Do giữ nguyên Bản án sơ thẩm, nên bà T1, ông T3, ch N, anh D phải ch u tiền án phí dân sự phúc thẩm.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 148; Khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 697, 122, 248, 256 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26, Điều 203 uật Đất đai; Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy đ nh về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2018/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T.
3. Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V đối v i bà Nguyễn Th C1 về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
4. Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V đối v i ông ê Văn L và ch ê Th C2 về việc yêu c u trả lại 05 thửa đất có t ng diện tích 22.690m2 thuộc các thửa 537, 541, 930, 1091, 1092 cùng tờ bản đồ số 06, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nư c, đất t a lạc tại ấp x, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đất hiện nay do ông ê Văn L và ch ê Th C2 đứng tên.
5. Bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V phải ch u chi phí đo đạc đất số tiền là 22.969.000 đồng (Hai mươi hai triệu chín trăm sáu mươi chín ngh n đồng), hiện đ nộp xong.
6. Về chi phí đ nh giá số tiền 400.000đ (Bốn trăm ngh n đồng) hộ gia đ nh bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V phải ch u, hiện đ nộp xong.
7. Về án phí:
- Bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V liên đ i ch u án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 35.766.000đ, được tr vào số tiền tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai số: xxxx ngày 10/6/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà Dương Th Bích T1, ông V Văn T3, anh V Tấn D, ch V Th M N, anh V Văn V còn phải nộp thêm số tiền 17.173.000đ (Mười bảy triệu một trăm bảy mươi ba ngh n đồng).
- Bà T1, ông T3, anh D, ch N phải ch u 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của bà T1, ông T3, anh D, ch N, anh V theo biên lai số xxxx ngày 03/8/2018 là 300.000 đồng được tr vào tiền án phí.
Trong trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 uật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Tỉnh; - TAND huyện T; - CCTHADS huyện T; - Phòng KTNV-THA TA tỉnh; - Các đương sự; - ưu: Hồ sơ vụ án (T). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn T ng |